﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 04/04/2026 11:10:14 SA-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/vhdantocdn/_layouts/RssXslt.aspx?List=24bbfa01-fe31-4b35-9eb9-90639f4ba3e6" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Văn Hóa Các Dân Tộc Đồng Nai: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Sat, 04 Apr 2026 04:10:14 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Văn Hóa Các Dân Tộc Đồng Nai: Bài đăng</title>
      <url>/vhdantocdn/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Y học dân gian của đồng bào Chơ Ro ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=49</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE500D66DCE534A44A992BE168A194EB2><div class=ExternalClassD5A62E582EDC497EB50912C03E9A6408>
<div class=ExternalClass6BC42D5BFAF447119F335D8F59D4873C>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Chơ Ro là một trong những cư dân có mặt sớm nhất trên vùng đất Đồng Nai. Tập trung cư trú ở các huyện, thị: Long Khánh (xã Xuân Vinh, xã Xuân Bình, xã Bàu Trâm, xã Hàng Gòn) ; huyện Xuân Lộc (xã Xuân Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ); huyện Định Quán (xã Túc Trưng); huyện Vĩnh Cửu (xã Phú Lý); huyện Long Thành (xã Phước Bình); huyện Thống Nhất (xã Xuân Lộc, xã Xuân Thiện). Riêng ở thành phố Biên Hòa, hiện nay có một số ít người Chơ Ro đến sinh sống, chủ yếu là thanh niên trong độ tuổi đi học hoặc làm công nhân tại các khu công nghiệp.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"> Sống trong môi trường rừng núi, nhiều thực vật, người Chơ Ro đã nhận biết những dược tính của thực vật để sử dụng trong chữa bệnh thông thường. Chắc chắn, những tri thức này được tích lũy qua nhiều thế hệ và được sử dụng khi điều kiện y tế trước đây không có.</font></span></span></p>
<div style="text-align:center"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt"><img alt="" width=645 height=260 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/la-xong-chua-benh-cam24112017_9133.jpg"></span></font></span></div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">Khi cảm sốt thông thường, người Chơ ro sử dụng một số lá hay rễ cây rừng như ổi, sả, chanh, mía...để nấu nước xông hơi. Đ</span><span style="font-size:14pt">ể</span><span style="font-size:14pt"> chữa chứng đau bụng, người Chơ ro dùng củ gừng hay lá ổi hoặc vỏ cây bằng lăng nướng và đun l</span><span style="font-size:14pt">ấ</span><span style="font-size:14pt">y nước để uống. Đọt mây được nướng ăn đ</span><span style="font-size:14pt">ể</span><span style="font-size:14pt"> chữa chứng đầy bụng hay giải độc rượu. Khi bị những con vật như rết cắn, người Chơ ro lấy lá hôi (la h’vang) nhai hoặc lẩy mủ cây đu đủ đắp vào vết thương. Trường hợp bị gãy tay, người Chơ Ro ở xã Túc Trưng dùng nghệ vàng, nghệ đen, lá cây bìm bịp làm ổ (la pa nhau woai) và xác gà con (nở dưới năm ngày) giã trộn đều để bó vào vết thương.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đặc biệt, khi người phụ nữ trong thời kỳ sanh đẻ, nuôi con, một số lá cây rừng được người Chơ Ro hái lá mũi trâu (la muh capu), lá wuê la wuê nấu cho người phụ nữ tắm. Lá H’vâm thì nấu lấy nước uống để thải các chất dịch sau khi sinh, tăng cường sức khỏe cho bà mẹ.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">Cây sâm đất được người Chơ Ro nhổ đem về nấu nước uống giải nhiệt và ngâm rượu uống chống nhức mỏi, giảm đau của bệnh thấp khớp. Đặc biệt, trong vùng rừng người Chơ Ro sinh sống, có một loại cây mật nhân được người Chơ Ro dùng cả thân, rễ để ngâm rượu chữa bệnh. Khi chặt thân cây hay lấy rễ, người Chơ Ro đem băm nhỏ, phơi khô và ngâm rượu. Tuy nhiên, để nhằm khai thác những dược chất của loại cây này, người Chơ Ro thường khai thác vào các tháng giữa năm tính theo lịch âm. Đây là loại cây mà các nhà khoa học hiện nay đang nghiên cứu và cho rằng là dạng cây Bá bệnh - cách gọi của người Kinh. Dược chất từ thân </span><span style="font-size:14pt">r</span><span style="font-size:14pt">ễ cây này được các nhà khoa học nghiên cứu có tính tăng cường đề kháng. Người Chơ Ro chỉ sử dụng trong việc ngâm rượu đ</span><span style="font-size:14pt">ể</span><span style="font-size:14pt"> sử dụng.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img alt="" align=right width=322 height=234 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/cay-nghe-chua-benh-bao-tu24112017_9215.jpg">Bên cạnh khai thác củ nghệ để chữa bệnh bao tử, mật ong rừng được người Chơ Ro khai thác và xem như một dược chất quý hiếm để chữa nhiều thứ bệnh: tăng cường bồi bổ cơ thể, chữa đau bao tử, đường ruột... rất hiệu quả. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">Rượu cần là một dạng thức uống nhưng cũng là một phương thuốc ch</span><span style="font-size:14pt">ữ</span><span style="font-size:14pt">a bệnh nếu dùng đúng cách; đặc biệt là hỗ trợ tiêu hóa. Ng</span><span style="font-size:14pt">ườ</span><span style="font-size:14pt">i Chơ Ro đã nhận biết các dược chất từ các loại rễ, vỏ, lá... cây để làm men rượu.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">Có thể khẳng định rằng, những kinh nghiệm trong việc khai thác các loại thực vật, sản vật từ rừng để chữa bệnh của người Chơ Ro có những điểm tương đồng trong khai thác của các dân tộc ở thiểu số </span><span style="font-size:14pt">cư trú tại Đồng Nai</span><span style="font-size:14pt"> như X’tiêng, Mạ</span><span style="font-size:14pt">,....</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">Hiện nay, được sự quan tâm của tỉnh nhà đến các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Chơ Ro nói riêng, điều kiện </span><span style="font-size:14pt">sinh </span><span style="font-size:14pt">sống của đồng bào được cải thiện rất nhiều. Với sự đầu tư về cơ sở vật chất của ngành y tế cũng như nhân lực đến cấp cơ sở </span><span style="font-size:14pt">như: các </span><span style="font-size:14pt">trạm y tế, y bác sĩ đồng bào bị bệnh được chữa trị nhanh chóng và kịp thời. Nhiều bệnh nhân được cứu sống, trẻ em được tiêm phòng nên ít mắc bệnh hơn. Ngoài hệ thống y tế, bác sĩ của nhà nước còn có các cơ sở bán thuốc chữa bệnh, phòng khám, phòng mạch tư nhân, góp phần đảm bảo hơn cho đời sống sinh hoạt của đồng bào. Vì thế, người Chơ Ro cũng đã ít khai thác, sử dụng thực vật, sản vật từ rừng trong điều trị bệnh. Người Chơ Ro đã quen dần và thích nghi trong việc tìm đến các cơ sở y tế để khám, chữa bệnh khi có nhu cầu. Một số phương thuốc khai thác dân gian đã bị mai một. Tuy vậy, các cây thuốc dân gian được khai thác từ rừng của đồng bào Chơ Ro vẫn cần được các cơ quan chuyên môn nghiên cứu kỹ hơn đế bảo tồn và phát huy trong đời sống hiện tại. Đồng thời, sáng chế và sử dụng thuốc nam ngày một hiệu quả, tiết kiệm kinh phí hơn trong cuộc sống hiện đại.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Có thể nói rằng dược phẩm từ môi trường thiên nhiên rất phong phú và đa dạng. Kinh nghiệm của đồng bào dân tộc Chơ Ro trong lưu truyền và sử dụng các cây thuốc nam rất đáng được coi trọng. Tuy nhiều bài thuốc dân gian đã bị mai một, nhưng với sự chung tay góp sức của chính quyền, người dân và đồng bào thì các bài thuốc dân gian sẽ được lưu truyền và được ứng dụng tốt hơn trong chữa bệnh ở xã hội hiện đại. Hy vọng, nhiều bệnh nhẹ như cảm cúm, ho, đau đầu, sốt, viêm soang,… sẽ được chữa khỏi bởi các dược liệu thuốc nam trong tương lai.</font></span></span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:small"><em><strong>Đào Thanh</strong></em></span></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/11/2017 8:55 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.181</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Fri, 24 Nov 2017 02:02:29 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=49</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đặc điểm văn hóa của người Châu Ro ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB7DA5C5D11924BE593C7CD3C38DFE2AF><div class=ExternalClassF6D9C55C5EB9496E8EDF63770749A556>
<div class=ExternalClass0096BFC42F194C61ACACEA559878B205>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Châu Ro là một trong những dân tộc ít người bản địa cư trú lâu đời ở vùng trung du Đông Nam bộ. Ngoài địa bàn cư trú chủ yếu ở Đồng Nai, người Châu Ro còn có ở Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận với số dân ít hơn và phân bố rải rác ở các vùng rừng, vùng cao.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Châu-Ro đến Đồng Nai khai khẩn lập nghiệp trước thế kỷ XVI, được xem là cư dân tại chỗ của vùng đất Đồng Nai. Về ngôn ngữ, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, ngữ hệ Nam Á, cuộc sống gắn với hệ sinh thái rừng núi trung du miền Đông; có quan hệ mật thiết với các tộc người Mạ, Xtiêng, Kơho, Raklây; hình như các tộc người này có quan hệ “họ hàng” với nhau về nguồn gốc dân tộc, tổ chức xã hội, sinh hoạt văn hóa… cũng như người Mạ, Xtiêng, Kơho, người Châu Ro chưa có chữ viết, việc truyền bá kiến thức cho thế hệ sau đều theo lối truyền khẩu. Hiện nay trên địa bàn Đồng Nai, người Châu-Ro có khoảng 16.169 người chiếm 8,55% nhân khẩu là đồng bào dân tộc thiểu số trên toàn tỉnh, xếp đứng thứ 4 trong gần 40 thành phần dân tộc tỉnh Đồng Nai.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Châu Ro sống tập trung chủ yếu tại ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu; xã Túc Trưng huyện Định Quán; các xã: Bảo Vinh, Bảo Quang, Hàng Gòn, thị xã Long Khánh; các xã: Xuân Trường, Xuân Phú, Xuân Thọ huyện Xuân Lộc; xã Phước Bình (huyện Long Thành), xã Xuân Thiện (huyện Thống Nhất). Còn lại sống rác rác trên khắp địa bàn các huyện, thị và thành phố Biên Hòa.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Châu Ro chịu khó, gan dạ, đóng góp nhiều thành tích trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Đại biểu Quốc hội khóa I Điểu Xiểng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Điểu Cải… là những tấm gương tự hào của người Châu Ro. Các thành tích anh hùng của xã Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu), xã Túc Trưng (huyện Định Quán) đều ghi dấu công trạng và sự hy sinh lớn lao của người Châu Ro ở địa phương.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Ở góc độ bài viết này, xin được tìm hiểu đôi nét về đặc điểm văn hóa của người Châu Ro ở Đồng Nai:</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><img alt="" align=left width=356 height=275 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-6/nghe-dan-chieu1262018_144836.jpg">- Về hoạt động kinh tế:</span></i><span lang=EN-US style="font-size:14pt"> </span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Kinh tế truyền thống của người Châu Ro ở Đồng Nai là kinh tế nương rẫy. Nguồn sống của người dân chủ yếu dựa vào kết quả mùa màng. Xưa kia, người dân khai thác vùng đồi núi nơi cư trú của mình để trồng trọt theo lối du canh du cư, nên cuộc sống nghèo nàn và không ổn định. Sau này, người dân đã biết biến rẫy thành đất định canh và phát triển nương rẫy thành ruộng nước, vì vậy đời sống có phần khá hơn. Cùng với nông nghiệp ruộng nước, nương rẫy, việc làm vườn, chăn nuôi, săn bắt, đánh cá, hái lượm... là những ngành kinh tế phụ bổ trợ cho kinh tế nương rẫy. Ngoài ra, một số ít sống bằng nghề đan lát, dệt thổ cẩm, rèn, làm các đồ dùng bằng tre, gỗ.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><i><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">- Về văn hoá -  xã hội: </font></span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Châu Ro ăn cơm tẻ là chính, canh bồi, đọt mây nướng, lá nhíp ống thụp là thức ăn quen thuộc. Người Châu Ro hút thuốc lá sợi bằng tẩu. Trong dịp lễ, tết thường có: cơm lam, thịt nướng, rượu cần.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Về trang phục, phụ nữ quấn váy, đàn ông đóng khố, mặc áo chui đầu; trời lạnh có tấm vải choàng. Ngày nay, người Châu Ro mặc như trang phục giống người Kinh trong vùng. Phụ nữ hay đeo các vòng đồng, bạc, dây cườm trang sức nơi cổ và tay. Trang phục truyền thống được sử dụng trong các dịp lễ, tết truyền thống của đồng bào.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"> </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Về nhà cửa: Đối với người Châu Ro, Làng (plây) là đơn vị cư trú của người Châu Ro, giống như thôn xóm của người Việt. Mỗi làng thường có từ 10 đến 15 nóc nhà dài. Các gia đình trong làng thuộc nhiều dòng họ khác nhau, nhưng phần lớn có quan hệ họ hàng với nhau. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Ngày nay, một số làng đã thành ấp. Vai trò của già làng được chuyển sang trưởng ấp. Tuy nhiên, theo quan niệm của người dân Châu Ro, già làng vẫn giữ vai trò là người giải quyết các vấn đề của làng, các công việc trong gia tộc; hòa giải các mâu thuẫn của người dân; tổ chức nghi lễ cúng nhang, lễ tết; nhắc nhở bà con chấp hành pháp luật.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><img alt="" align=right width=463 height=332 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-6/trang-phuc-dan-toc-chau-ro1262018_144911.jpg">- Các nghi lễ:</span></i><span lang=EN-US style="font-size:14pt"> </span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Từ xưa, để tiếp xúc và khẩn cầu đến thần linh, con người đã từng bước hình thành các nghi lễ vừa mang tính dân gian vừa mang yếu tố tôn giáo. Hàng năm người Châu Ro thường tổ chức cúng Thần Lúa (SaYangva); cúng thần Rừng, Lễ cầu mưa, dựng cây nêu….Các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời được tính đến là các nghi lễ của một con người từ khi sinh ra đến khi chết. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">+ Hôn nhân: Kiêng kỵ lớn nhất của người Châu Ro là hôn nhân cùng dòng họ. Nói cách khác, ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc bắt buộc đối với nam nữ Châu Ro. Độ tuổi kết hôn thường từ 16 - 20. Hiện nay, tuổi kết hôn trung bình của người dân Châu Ro đã tăng hơn 1 - 2 tuổi so với vài năm trước. Người Châu Ro không theo chế độ mẫu hệ hay phụ hệ mà coi trọng cả hai như nhau. Trong hôn nhân, tuy nhà trai hỏi vợ cho con, nhưng lễ cưới tổ chức tại nhà gái, chàng trai phải ở rể vài năm rồi vợ chồng làm nhà ở riêng. Người Châu Ro thường có tục chia của cho con cái khi ra ở riêng, do đó chàng trai sẽ được một phần của cải của gia đình. Chế độ một vợ một chồng đã được thiết lập từ lâu trong xã hội người Châu Ro và vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">+ Sinh đẻ và nuôi con: Việc sinh đẻ, chăm sóc sản phụ và nuôi dưỡng con cái của người Châu Ro chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm của cuộc sống, kiến thức y học dân gian và những kiêng kỵ liên quan đến tín ngưỡng. Theo quan niệm của người dân Châu Ro ở Đồng Nai, ăn thịt những con thú trên khi có thai thường mang lại xui xẻo, dễ làm cho hư thai hoặc đẻ non, con chết... Trước đây, trong quan niệm của người Châu Ro, cha mẹ thường mong sinh con gái. Về tình thương, gia đình thương cả con trai lẫn con gái, nhưng nếu sinh con gái thì tổ chức tiệc ăn mừng. Ngày nay, cha mẹ và ông bà lại mong có con trai, vì chế độ mẫu hệ đã dần dần bị thay thế bằng chế độ phụ hệ, cô dâu về nhà chồng sau khi kết hôn. Đồng thời, con trai còn là nguồn lao động chính trong gia đình.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span lang=EN-US style="font-size:14pt">+ </span></i><span lang=EN-US style="font-size:14pt">Tang ma<i>:</i>Theo quan niệm của người Châu Ro, bên cạnh thế giới của người sống còn có thế giới của người chết. Người Châu Ro theo tập quán thổ táng. Mộ phần được đắp lên cao theo hình bán cầu. Trong ba ngày đầu, người ta gọi hồn người chết về ăm cơm; sau đó là lễ “mở cửa mả” với 100 ngày cúng cơm.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span lang=EN-US style="font-size:14pt">- Văn hoá tâm linh:</span></i><span lang=EN-US style="font-size:14pt"> </span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Châu Ro ở Đồng Nai thờ đa thần. Họ tin mọi vật đều có “hồn” và các “thần linh” chi phối vô hình đối với con người, khiến con người phải kiêng kỵ và cúng tế. Yang bri (thần rừng) được xem là vị thần tối cao. Đó chính là nguyên nhân của các kiêng kỵ và các lễ cúng tế. Trong một dòng họ thường có một hoặc hai thầy bóng. Người làm nghề thầy bóng chủ yếu là nữ. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span lang=EN-US style="font-size:14pt">- Văn hoá nghệ thuật:</span></i><span lang=EN-US style="font-size:14pt"> Vốn văn nghệ dân gian của người Châu Ro phong phú, với nhiều thể loại: truyện kể, thơ ca trữ tình, múa, lối hát đối đáp, nhiều loại nhạc cụ... Các câu tục ngữ, phương ngôn đúc kết các kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, kinh nghiệm về thiên nhiên và cuộc sống xã hội. </span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Nhạc cụ của người Châu Ro gồm nhiều loại, trong đó nổi bật và cũng là phổ biến là bộ chiêng 7 chiếc. Ngoài ra, người Châu Ro còn sử dụng nhiều loại nhạc cụ cổ truyền khác như: trống, kèn, sáo...</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Nhìn chung kho tàng văn hóa dân tộc của người Châu Ro khá phong phú và đa dạng, người Châu Ro ở Đồng Nai còn bảo lưu nhiều yếu tố văn hoá truyền thống của dân tộc, nhưng do cuộc sống phân bố rải rác, phải di chuyển nhiều nên kho tàng văn hóa ấy đã phần nào bị mai một, thất tán, hiện có nguy cơ bị hòa tan vào các dòng văn hóa khác. Do những tác động của hoàn cảnh lịch sử - xã hội dưới ảnh hưởng của môi trường sinh thái và những chính sách nhằm phát triển các dân tộc thiểu số bản địa ở địa bàn tỉnh đã diễn ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, văn hoá xã hội. Nhiều tập tục lạc hậu mang tính chất mê tín dị đoan đã được loại bỏ. Thông qua giao tiếp văn hoá, họ đã tiếp thu không ít những giá trị văn hoá của người Việt sống trong cùng địa phương, kể từ cung cách làm ăn đến nhà cửa, quần áo, thậm chí tiếng nói và phong tục, tập quán…. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Bên cạnh việc ra sức tuyên truyền việc bảo tồn và phát huy những giá trị vốn có của nền văn hóa dân tộc Châu Ro ở Đồng Nai, chúng ta cần có nhiều thêm những công trình nghiên cứu về bản sắc của nền văn hóa trên và đề ra những giải pháp thiết thực nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa đó để không bị mai một trong tiến trình phát triển đất nước hiện nay.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><i><span lang=EN-US style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đinh Nhài</font></span></i></span></p>
<p> <img width=610 height=14 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-6/thanh-ngang1262018_14505.jpg"></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 12/06/2018 2:45 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.784</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 12 Jun 2018 07:49:24 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Trang phục truyền thống của người Mạ ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=61</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB7291D1A003C4F5A92D6B6556E6D2803><div class=ExternalClassB1CCC36DE7D44FA288977D576FA158E0>
<div class=ExternalClass31AF5CA6DD4D4E008C8D890B825321D5>
<p> </p>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Người Mạ là một trong những tộc người đầu tiên cư trú ở Đồng Nai. Đời sống văn hóa của người Mạ rất phong phú và đặc sắc. Từ những kinh nghiệm được truyền lại, người Mạ biết dệt vải, làm thổ cẩm. Những tấm thổ cẩm của người Mạ được kết tinh bởi nghệ thuật tạo hình và màu sắc bắt mắt, làm nên những bộ trang phục tiện lợi, đẹp đặc sắc.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Trang phục truyền thống của người Mạ khá đơn giản. Đàn ông Mạ đóng khố, ở trần. Phụ nữ Mạ mặc váy, ở trần. Một số tư liệu cho rằng, áo của người Mạ trước đây được làm từ vỏ của các loại cây rừng. Sau này, khi biết dệt thổ cẩm, người Mạ dệt và may áo cho cả nam giới và nữ giới. Trong những nguồn tư liệu của các nhà nghiên cứu Pháp, đặc biệt những hình ảnh tư liệu chụp những thập niên đầu thế kỷ XX, cho thấy, người Mạ còn ở trần trong lúc đi nương rẫy hay ở nhà. Khi trời lạnh, họ mới mặc áo hay khoác thêm lên người một tấm chăn.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Trang phục nam giới: Theo quan niệm của người Mạ, trang phục không chỉ để che thân mà còn giúp người đàn ông đẹp hơn. Từ thời xa xưa, người Mạ đã biết lấy vỏ cây để làm những chiếc áo đơn giản, gọi là áo vỏ cây. Họ chọn những loại vở cây rừng lành tính, không độc, có diện tích vừa phải, vạt đem đập dập và phơi khô. Sau đó, kết lại bàng các sợi dây nối các miếng vỏ cây lại. Áo vỏ cây thường gồm hai mảnh. Phía trên khoét một lỗ trống đề chui đầu. Phần thân áo có thể để rời hai vạt trước sau hoặc cũng có thể lấy dây nối kết hai bên hông, chỉ chừa phần trống sát vai để đưa hay tay ra ngoài.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Lúc lên dãy hay ở nhà nam giới người Mạ thường đóng khố. Tùy theo độ tuổi và thân hình mà nam giới Mạ có những chiếc khố được dệt phù hợp. Khố là một mảnh vải tam giác hẹp, dài được quấn quanh hạ bộ, qua đũng và bỏ thong trên đùi thành hai vạt. Có hai dạng khố: Khố đơn giản thường có màu chàm đen, không có hoa văn sặc sỡ. Loại khố sang trọng có đính hạt cườm, tua riềm dài trang trí ở hai đầu vạt.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Sau khi biết dệt thổ cẩm, nam giới Mạ cũng mặc áo nhiều hơn. Áo của người Mạ được dệt từ sợi, may từ hai miếng vải dệt. Trên áo có nhiều hoa văn. Phần trên khoét cổ tròn. Nhìn tổng thể, áo có hình chữ nhật, màu trắng chủ đạo. Áo được xẻ tà và thường vạt sau dài hơn vạt trước. Biên áo vạt sau thường có các tua riềm trang trí. Trên thân áo theo từng khu thân ngang được tạo nhiều hình ảnh hoa văn. Áo có các loại: dài tay, ngắn tay nhưng phổ biến nhất là áo không có tay.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Ngoài những bộ trang phục đẹp mắt ra, nam giới Mạ còn sử dụng nhiều trang sức để tôn lên vẻ đẹp của ngoại hình. Đàn ông Mạ sử dụng một số đồ trang sức truyền thống như: vòng đeo cổ, vòng đeo tay, dây quấn đầu, hoa tai (ngà voi hay ống tre). Vòng đeo cổ, vòng đeo tay thường được làm bằng chất liệu đồng, nhôm hay bạc, hình ống đặc<span style="color:windowtext">, thường tròn, </span><span style="color:windowtext">tr</span><span style="color:windowtext">ơn và</span> không khắc hoa văn. Dây quấn đầu được dệt từ sợi với bề ngang có kích thước nhỏ và chiều dài từ 4 tấc trở lên. Trên dây quấn thường thể hiện mô típ hoa văn hình học nối tiếp nhau.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><b><i>Trang phục nữ gi</i></b><b><i>ớ</i></b><b><i>i</i></b><b><i>:</i></b>Phụ nữ Mạ trước đây mặc váy che phần thắt lưng trở xuống. Từ thắt lưng trở lên để trần. Sau này, phụ nữ Mạ thường mặc váy quấn và áo thổ cẩm tự đồng bào dệt lấy. </span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><img alt="" align=left width=226 height=342 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-4/11142018_8529.jpg">Áo thổ cẩm được dệt từ sợi và được may lại <span style="color:windowtext">từ hai </span><span style="color:windowtext">tấm </span>vải dệt. Áo nữ thường được may từ hai tấm thố cẩm. Phần trên khoét cổ tròn hoặc hình bầu dục. Thường áo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, được xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau. Biên áo có các tua riềm trang trí. Màu chủ đạo của <span style="color:windowtext">áo là màu</span><span style="color:windowtext"> trắng</span><span style="color:windowtext">.</span> Nhìn tổng thể, áo có dạng hình chữ nhật. Trên thân áo tùy theo những khu thân ngang mà tạo những mô típ hoa văn. Hai màu đỏ, xanh chủ đạo trong việc tạo hoa văn và các dải băng trong bố cục trang trí áo. Áo của nữ giới Mạ có các loại như dài tay, ngắn tay nhưng phổ biến nhất là áo không dài tay.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Ngoài những chiếc áo với nhiều màu sắc khác nhau, người Mạ còn dệt những chiếc váy rất đẹp. Váy là tấm vải dệt khá rộng dùng đế choàng quấn che phần thân từ thắt lưng trở xuống. Chiều dài của thân váy phủ từ thắt lưng xuống đến mắt cá chân. Chiều ngang của váy khoảng 1 mét. Khi quấn ngang thân, phần vải dư được vắt sang bên sườn hay chồng lên phần đầu tấm vải một cách khéo léo. Trên tấm váy thể hiện nhiều hình thức trang trí hoa văn. Màu chủ đạo của váy là màu chàm, bên cạnh đó có các phần mảng sọc hoa văn dài màu xanh, đỏ, vàng, trắng. Những tấm váy truyền thống đặc sắc của những phụ nữ Mạ lớn tuổi trước năm 1945 thường có trang trí các viền tua len đỏ và các đồng tiền bằng chất liệu bạc, vòng khoen bạc màu sáng hay một số lục lạc. Khi mặc tấm váy được trang trí như trên, phần đầu nối hai đầu tấm váy tạo nên một dải kéo thả theo phần thân người từ thắt lưng đầy màu sắc, tạo thêm vẻ đẹp cho người mặc.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><img alt="" align=right width=293 height=302 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-4/21142018_85235.jpg">Hiện nay, những trang phục truyền thống thường được người Mạ sử dụng trong các lễ tiết gia đình hay ngày hội chungcủa cộng đồng. Khố của nam giới thường được mặc trong những hoạt động mang tính chất trình diễn, chủ yếu trong các dịp lễ hội. Áo của đàn ông hay phụ nữ với các loại hoa văn truyền thống thường được người lớn tuổi sử dụng nhưng không thường xuyên. Một số phụ nữ lớn tuổi còn sử dụng váy thổ cẩm bản thân tự dệt lấy. Nhiều phụ nữ Mạ sử dụng váy bằng chất liệu vải hiện bày bán khá phổ biến trên thị trường. </span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Để làm cho bản thân có sức hấp dẫn, đẹp hơn lên, phụ nữ Mạ hay dùng những đồ trang sức như: vòng đeo tay, vòng đeo chân, vòng đeo cổ, dây quấn đầu, khăn quấn đầu, dây thắt lưng, ngà voi. Những loại trang sức trên cũng được nam giới Mạ sử dụng nhưng khác nhau ở chỗ cách trang sửc thế nào. Nữ giới Mạ thường dùng vòng đeo tay bằng nhôm hay bạc, thiếc trong khi nam giới thường chọn chất liệu bằng đồng. Những chiếc vòng này màu bạc, sáng trắng sẽ nổi bật lên trên làn da. Phụ nữ Mạ lớn tuổi thường sử dụng vòng đeo cổ nhưng thiếu nữ thì thấy ít sử dụng. Trên cổ của phụ nữ Mạ, vòng đeo cổ bằng kim loại chỉ chiếm số lượng ít từ một đến hai chiếc (trong khi phụ nữ người S’tiêng thường đeo nhiều hơn). Đặc biệt, nữ giới Mạ hay sử dụng những chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc đeo trên cổ và để trễ dài qua phần ngực của mình. Như vậy, trong tấm thân để trần phía trên, những đồ trang sức sẽ thu hút và làm nổi bật vẻ đẹp, tràn đầy sức sống của những cô gái Mạ. Một số vòng hạt chuỗi thậm chí được gán thêm những đồng bạc trắng hay các khoen vòngbằng kim loại. Dây quấn đầu, dây thắt lưng được dệt từ thổ cẩm và được trang trí các mô típ hoa văn sặc sỡ chủ yếu từ màu đỏ, vàng và được thiếu nữ Mạ hay sử dụng. Khăn quấn đầu được dệt từ thổ cẩm, nhiều hoa văn, các biên khăn có những riềm tua trang trí và thường được những người phụ nữ Mạ lớn tuổi sử dụng.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Trải qua quá trình giao lưu, tiếp xúc với người Kinh và các tộc người khác, việc sử dụng trang phục truyền thống của người Mạ có những biến đổi lớn. Người Mạ sử dụng khá phổ biến những loại trang phục của người Việt do sự giản tiện, thuận lợi trong sinh hoạt và có tính thẩm mỹ cao trong cuộc sống hiện tại. Hiện nay, một số trang phục nữ giới của người Chăm được người Mạ sử dụng như chiếc khăn trùm đầu hay áo và váy. Các loại khăn, áo, váy của <span style="color:windowtext">người Chăm có </span><span style="color:windowtext">lẽ</span> thích hợp với thị hiếu thẩm mỹ của người Mạ với tính chất màu khá sặc sỡ. Loại trang phục này do những một số người Kinh mang đến trao đổi, buôn bán trực tiếp ở các buôn người Mạ sinh sống.</span></span></div>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><span style="color:black">Đào Thanh</span></span></span></p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 11/04/2018 8:45 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.828</div>
]]></description>
      <author>ntsen</author>
      <pubDate>Wed, 11 Apr 2018 01:52:45 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=61</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nghệ thuật trang trí trên vải dệt của người Mạ ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassEA60297CAD1044BA9C681A3808429917><div class=ExternalClassFD9859067A4647B0BEB743D860462A78>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Người Mạ cư tr</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ú</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> <span lang=VI>ở nhiều nơi như Lâm Đồng, Đồng Nai và một phần thuộc tỉnh Bình Phước. Ở Đồng Nai, </span></span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">người Mạ </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">hiện có 564 hộ với 2.577 khẩu (số liệu của Ban Dân tộc tỉnh, tháng 6/2009), đứng thứ 10 trong số hơn 40 dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn tỉnh, hầu hết tập trung ở huyện Tân Phú (266 hộ, 1306 khẩu) và Định Quán (289 hộ, 1235 khẩu). </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Văn hóa người Mạ cũng có nhiều điểm tương đồng với các dân tộc bản địa đang sinh sống tại Đồng Nai. Song một trong những nét độc đáo của văn hóa truyền thống người Mạ đó là nghệ thuật trang trí trên vải dệt.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trong các nguồn tư liệu của các tác giả người Pháp thì nam giới Mạ đóng khố cởi trần, nữ giới mặc váy cởi trần. Trước khi biết dệt vải làm trang phục, người Mạ lấy vỏ cây đập dập xuôn hai tấm làm áo. Sau này, nghề dệt ra đời, thổ cẩm của người Mạ được dệt rất công phu với nhiều hình tượng độc đáo và màu sắc bắt mắt.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trang phục</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> và những</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> vật dụng như chăn, mền, dây quấn đầu... của người Mạ được dệt từ thổ cẩm không chỉ có chức năng riêng mà chúng còn thể hiện là một tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo khá độc đáo. Những hoạt tiết, hoa văn được thể hiện với sự cách điệu một cách tinh tế, mang tính biểu trưng cao.</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Hoa văn </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">trên vải của người </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Mạ gồm các dạng như sau:</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Hoa văn về con người:</span></i></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Có ba hình mẫu thể hiện chính gồm hình người nam (hai tay chống nạnh, hoặc hai tay giơ lên trên trửi), hình người nữ (đưa hai tay ra nắm với tay người khác), hình con mắt (dạng hình thoi có điểm con ngươi). Thường hoa văn thể hiện hình ảnh con người được thể hiện trên áo mặc. Trên cùng một phân dải ngang của áo được định bởi đường diềm, tùy loại hình mẫu được chọn để thể hiện riêng biệt chứ không xen k</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ẽ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> nhau trên cùng một khung. Các hình mẫu hoa văn trên thể hiện về sức mạnh của con người</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">,</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> sự dịu dàng của phụ nữ, niềm vui trong ngay lễ hội và sự sáng suốt, tinh tường của con người.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img align=left width=391 height=286 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/nghe-thuat-tao-hinh-tren-tho-cam22112017_81813.jpg">Hoa văn thực vật:</span></i></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Chưa thấy một loại cây cụ thể nào được thể hiện trên hoa văn của người Mạ. Một số hình ảnh biểu </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">trưng</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> thể hiện là dây, hoa, lá chung chung, cách điệu cao nhưng không biểu trưng cụ thể. Các loại mẫu này được</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">tạo liên kết với nhau và thường thấy trong các loại trang phục: áo, váy, khố, ch</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ă</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n... Những mẫu hoa văn này thể hiện sự đa dạng về môi trường thiên nhiên của núi rừng và có ý nghĩa của sự liên kết, liền lạc với nhau, về giềng mối của dòng họ, của cộng đồng.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Hoa văn động vật:</span></i></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Một số hình mẫu con vật được thể hiện trên vải dệt như con trâu, con dê, con rùa, con ve, con nai, con hươu</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">,</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">... Các con vật trên được cách điệu cao nhưng thể hiện biểu trưng cụ thể của đặc điểm giống loài: con trâu với cặp sừng lớn, con dê với cặp sừng nhỏ, con rùa với cái mai và bốn chân choãi ra như đang bơi, con nai, hươu thì to lớn với bộ lưng và chân đi tới</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">,...</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">. Những hình mẫu này thường được thể hiện trên áo và tách bạch chứ không xen k</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ẽ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> với nhau trên dải khung nhất định. Sử dụng nhiều loại thú trong trong thể hiện hoa văn phản ánh cách nhìn sinh động về thế giới động vật trong thiên nhiên, môi trường sống của người Mạ. Hình ảnh con trâu, con dê, con vịt là những con vật thường được dùng hiến tế trong lễ hội, nó biểu thị cho ngày hội, niềm vui. Con bướm thể hiện lời cầu khấn của con người được mau đến với thần linh. Các con vật khác gắn liền với cuộc sống hằng ngày. Con khỉ được nhắc nh</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">i</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ều trong truyện kể vừa mang tính tốt nhưng cũng vừa mang tính xấu hay lừa lọc con người trong cách nhìn của người Mạ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">. </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Hình mẫu con đà điểu (dáng con vật, chân cao, cổ cao)... cũng được chọn làm hoa văn trên áo có thể được tiếp thu qua một số hình ảnh sau này, bởi vì môi trường tự nhiên người Mạ không có con thú này.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Hoa văn đồ vật:</span></i></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Nhà dài, chiếc Gối, cái đèn, ché rượu cần, cái gùi, cái bếp, bình gốm... là những vật cũng được người Mạ dùng hình mẫu cho các họa tiết cá</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">c</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">h điệu </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">tr</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ên áo dệt. Nhà dài (mái nhà và các cột gỗ dưới sàn), chiếc cối (dạng khối hình chữ X), ché rượu (hình ché, nơi thể hiện thêm cần uống rượu), cái gùi (phần thân và hai quai đeo), cái đèn (hình chữ I), cái bếp (hình chữ I nhưng nằm ngang), bình gốm (hình khối dáng miệng và thân bình)</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">,</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">... Những mẫu hình đồ vật như gùi, đèn, cối giã có thể được bố trí xen k</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ẽ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> với nhau trên dải phân định trên áo. Còn nhà dài thì riêng mảng bố trí cùng loại. Các hoa văn đồ vật thể hiện cuộc sống đời thường của người Mạ với các vật dụng quen thuộc về chỗ ở, sản xuất, công việc hằng ngày phản ánh cuộc sống yên bình, ấm no. Ché rượu cần, cây đèn phản ánh niềm vui ngày lễ hội cộng đồng và ước vọng lời cầu xin được đến với thần linh. Ngoài những hoa văn thể hiện đồ vật trên, một số dạng thức hoa văn có thể hiện hình chiếc máy bay (hình dáng có thân, cánh, đuôi theo chiều đứng) là một hình mẫu có tính chất hiện đại thể hiện trong thời kỳ chiến tranh đã qua.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img align=right width=442 height=299 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/hoa-van-truyen-thong-tren-trang-phuc22112017_81917.jpg">Hoa văn về vũ trụ:</span></i></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Hình ảnh mặt trời được thể h</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">iện </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">cách điệu trên vải dệt của người Mạ rất độc đáo. Dạng thức hoa văn này chỉ có trên những tấm vải dệt rộng, không sử dụng trên quần áo. Mặt trời theo quan niệm của người Mạ là biểu tượng của sự sáng, được cách điệu bằng nhiều h</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ì</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">nh mẫu được liên kết bởi các khối họa hoạt tiết trong khung hình thoi lớn, nhiều đường viền và đa sắc. Một số hoa văn cách điệu mặt trời Pọt kòn nah (những hình thoi bao bọc nhau trong khối hình thoi lớn), Tin yàng (những hình thoi nhỏ bố trí trên hai trục kiểu dấu cộng trong đường viền của hình thoi lớn), Iar lộ (hình bốn dấu thập trong hình thoi lớn),</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">…v.v</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Mội tấm vải dệt của người Mạ, phần đầu thường thể hiện loại hoa văn những vạch song song, hình thoi, dấu ô đối xứng nhau trên cùng khung dải được phân biệt. Ngoài những hoa văn, họa tiết được cách điệu nêu trên, người Mạ còn sử dụng những hoa văn hình học trên một số vải dệt như: những hình tam giác cân xen kẽ nhau nhưng đối đỉnh trên cùng đường viền</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">,</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> giống loại hình răng cưa đối xứng nhau</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">; hay </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">những hình thoi được trang trí nét dấu điểm bên trong, giữa các hình thoi là dạng chữ Y đấu nối phần gốc tạo góc chĩa ra đều nhau trên cùng phần diềm khung.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Những tấm vải lớn thường được người Mạ sử dụng các hoạt tiết, hoa văn hình học theo chiều dài tấm vải với từng dải khung liền mạch, chúng vừa liên kết nhau vừa làm diềm để phân biệt các đường khung với nhiều màu sắc. Một số loại hoa văn khác được sử sụng như chữ z nằm ngang nối liền nhau, khối hình thoi cách điệu liên tiếp, những vạch ngang nối liền trên nền các viền thẳng</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">,.</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">.. Đây là những dạng mẫu thể hiện các sợi dây liên kết thể hiện giữa con người với thần linh, được cách điệu những dấu hiệu rời nhưng liền mạch trên phần khung của tấm vải.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Có thể nói rằng nghệ thuật tạo hình trên vải dệt của người Mạ là vô cùng phong phú với nhiều hình tượng độc đáo và màu sắc bắt mắt. Nghệ thuật tạo hình trên thổ cẩm được các thế hệ người Mạ sáng tạo và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người Mạ. Hiện nay, cuộc sống của đồng bào Mạ đã thay đổi, chuyên sang lối sống định cư, giao lưu văn hóa và giao thương với dân tộc khác thuận lợi hơn. Vải công nghiệp được bày bán ở mọi nơi với giá thành thấp nên nghề thổ cẩm càng ngày càng bị mai một. Tuy vậy, trong tâm thức của thể hệ trẻ đồng bào Mạ vẫn luôn tự hào về nghệ thuật tạo hình mà tổ tiên đã ghi dấu trên từng mét thổ cẩm.</span></span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:small"><em><strong>Đào Thanh</strong></em></span></p>
<p><img width=569 height=19 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/ngang22112017_82033.jpg"></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/11/2017 8:15 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.220</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Wed, 22 Nov 2017 01:20:42 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đôi nét về âm nhạc dân gian của người Mạ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=44</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass008D350E56F24B8EB4A0E45181A811E2><div class=ExternalClass0C2EF3332E614A63BDA6017D1B39B640>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Mạ là một cộng đồng người thống nhất trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, được xếp hàng thứ 28 trong 54 dân tộc anh em. Người Mạ được xếp trong tiểu nhóm Mnông cùng các thành phần dân tộc Mnông, Kơho, Xtiêng, Chơ ro, sinh sống nhiều tại huyện Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú tỉnh Đồng Nai. Họ cư trú chủ yếu theo địa hình đồi núi hay tập trung ven sông để thuận tiện cho việc sản xuất và sinh sống. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Văn hóa người Mạ nổi bật với kho tàng văn học dân gian phong phú, không gian văn hóa cồng chiêng kiệt tác, vùng sinh thái và văn hóa huyền thoại, những lễ nghi thần bí, các điệu múa khỏe khoắn, dân dã là tài sản quí giá của nền văn hóa Việt Nam, góp phần làm tô thắm nền văn hóa đó, chúng ta không thể không kể đến công lao đóng góp của cư dân người Mạ trong đó có nền âm nhạc dân gian đặc sắc của họ.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span style="background:white;font-size:14pt">Các loại hình nhạc cụ của người Mạ:</span></i><span style="background:white;font-size:14pt"> người Mạ dùng nhiều loại nhạc cụ trong sinh hoạt đời sống của mình trong đó có bộ chiêng, cồng, đàn tre, kèn bầu, kèn môi, kèn sừng trâu, sáo trúc, đàn đá…</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="background:white;font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đàn đá: theo nhiều tư liệu cộng đồng người Mạ đã từng sử dụng đàn đá nhưng không phổ biến và cho tới nay thì người Mạ không còn lưu giữ bộ đàn đá nào. Người Mạ sử dụng đàn đá rất thuần thạo, trong các lễ đâm trâu, người Mạ đem các thanh đá ra, dùng một khúc cây đánh liên hồi tạo ra chuỗi âm thanh. Sau buổi lễ, các thanh đàn đá được bôi huyết trâu và đem về cất giữ cẩn thận, lễ sau lại đem ra dùng.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="background:white;font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đàn tre: đây cũng là loại nhạc cụ khá phổ biến trong cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa ở miền Đông Nam Bộ như Xtiêng, Chơro. Khi sử dụng ngón cái khẩy xuống, các ngón khác móc lên, tư thế đứng hoặc ngồi. Người chơi đàn có thể độc tấu các bài bản ngoài những giai điệu của nhạc cụ chính. Đặc biệt nhạc cụ này có một điểm riêng khi độc tấu các bài bản của chinh thì chỉ cần một người, trong khi một dàn chinh cần phải có từ 6 – 7 người thì mới biểu diễn được.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="background:white;font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Kèn môi (Tồng): người Mạ giải thích tồng tức là chòi, kèn tồng được thổi ở chòi. Khi dùng gắn lên môi để thổi còn gọi là kèn môi. Giai điệu rất nhẹ và thanh, người Mạ dùng kèn môi khi canh chòi giữ rẫy hoặc người thanh niên bày tỏ tình cảm với người con gái mà mình yêu mến, và thường ngồi ở gốc cây hay gần nhà cô gái thổi để cô gái hiểu được tình cảm của mình.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="background:white;font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Kèn T’diếp: loại kèn này giống như kèn tù và, được làm bằng sừng bò hoặc sừng linh dương. Âm thanh của nó to, thôi thúc, giục giã, làm cho thú rừng sợ hãi, phục vụ tốt cho việc săn bắn, báo tin cho dân làng biết khi có hiểm họa, chiến tranh,…</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="background:white;font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Kèn bầu: kèn này được làm từ trái bầu, dân gian gọi là bầu khô lấy hết ruột để rỗng, chế ra cái kèn rất độc đáo. Kèn bầu thường được biểu diễn trong các dịp giao lưu kết bạn, các sinh hoạt gia đình, ngoài ra còn được kết hợp biểu diễn cùng cồng chiêng trong một số lễ hội. Tuy nhiên hiện nay rất ít người thổi được kèn này, do đó kèn bầu cũng không còn nhiều như trước kia.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="background:white;font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Cồng, chiêng: làm bằng kim loại, chủ yếu là đồng và có pha với một số hợp kim khác, đây là loại nhạc cụ vô cùng quan trọng của người Mạ và họ còn gọi với cái tên là: Ching, Goong. Nhạc cụ này gắn liền với đời sống người Mạ, vừa là tài sản quý nhưng cũng đồng thời là vật thiêng trong nhà. Cồng, chiêng thường được sử dụng trong một số lễ hội giao lưu văn hóa của cộng đồng cư dân, từ những lễ hội quy mô nhỏ mang tính chất gia đình đến những lễ hội của buôn làng. Ngoài ra, còn được sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cộng đồng giao lưu giữa các cư dân trong buôn. Khi sử dụng cồng, chiêng người Mạ đều làm lễ cúng với lễ vật là một con gà, không kể lớn nhỏ, lấy huyết bôi lên nhạc cụ để trình khẩn thần linh xin phép.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span style="font-size:14pt">Loại hình dân ca của người Mạ:</span></i><span style="font-size:14pt"> Các bài hát dân ca Mạ phần lớn là những bài tự sự, nội dung không dài và ca từ rất mộc mạc. Dân ca Mạ thường là các bài hát ru, đồng dao, các bài hát trong lao động - sinh hoạt, hát về tình yêu,…</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Hát ru của người Mạ có giai điệu nhịp nhàng và hình tượng thế giới sinh động, các hiện tượng tự nhiên, về nỗi niềm của người mẹ và chủ yếu ru cho trẻ thơ say sưa trong giấc ngủ ngon để mẹ đi làm việc: <i>Ầu ơ, ầu ơ…ơ… / Mẹ xuống suối lấy nước / Bố vào rừng lấy củi / Mẹ lấy gạo ngâm men / Mẹ đi xem lễ hội / Ầu ơ, ầu ơ…ơ…</i></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đồng dao là thể loại bài hát dành cho thiếu nhi, khác với đồng dao người Việt, đồng dao người Mạ được hát theo nhịp và kèm theo giai điệu nhạc. Giai điệu nhạc gọn gàng và những nhịp phách rất đều, phù hợp với kiểu vừa chơi vừa hát. Đồng dao được hát khi bọn trẻ thả diều, trẻ vừa thả vừa hát để xem diều ai bay cao hơn, hay khi chăn trâu vừa gõ sừng trâu vừa hát, thi nhau chơi các trò nhảy lò cò,…Nội dung bài đồng dao thường đề cập đến con người xinh đẹp nhất là các cô gái trong buôn cho đến các con thú trong rừng, cây cối, con vạc, cây gáo, nàng tiên, chim, hoa: <i>…Chim tung ra tiếng hót, hoa nở xinh đẹp, cô gái buôn làng ta, đẹp như cỏ trắng…</i></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Các bài hát trong lao động, sinh hoạt sản xuất: chiếm số lượng khá nhiều trong người Mạ, đề cập đến những cảnh sinh hoạt thường ngày và ca ngợi núi rừng, thiên nhiên chính nơi họ đang sinh sống. Các hình ảnh sinh động: đi rẫy, chăn trâu, xuống suối lấy nước, vào rừng lấy củi, chẻ mây,…hay những hình ảnh làm rượu cần, đi xem lễ hội, kéo co, ca hát,…Nhạc điệu khỏe mạnh, giai điệu mượt mà, lời ca kêu gọi cùng đoàn kết, tạo sức mạnh và ý chí chiến thắng: <i>Kéo lên nào bạn ơi / Ta cùng chung sức bạn ơi / Chiến thắng lên nào bạn ơi.</i></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Bài hát tình yêu: là những bài hát đối đáp giao duyên của người Mạ rất mượt mà, dịu dàng, đầy tình cảm. Lời bài hát là lời tâm tình, bộc bạch của nỗi lòng, cách suy nghĩ và lời cầu mong, mơ ước của thanh niên nam nữ, lời hát chân chất, thật lòng. Khi giữa thanh niên nam nữ nảy sinh tình cảm, họ hát nhưng chính là kể về những kỷ niệm, lời kể đằm thắm, chân tình nhưng sâu lắng: <i>Chỉ có một mình em lòng anh thương nhớ / Đêm nằm ngủ nghĩ mãi đến em / Lòng anh không yên nhớ em trong mơ mộng.</i></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Loại hình Tăm pớt: là loại hình hát kể đối đáp giao duyên khi đôi trai gái nảy sinh tình cảm, bài hát đầy tâm tình, cảm xúc giữa nam và nữ bày tỏ tình cảm, thổ lộ nhiều mong muốn, mơ ước của mình, đôi nam nữ đối đáp với nhau bằng nhiều hình ảnh ví von, so sánh rất độc đáo. Lời ca vừa như thầm thì vừa như yêu cầu người yêu tuôn trào với bao hình ảnh phong phú, những ẩn ý đầy thú vị: <i>Đừng để cán rìu không có người sử dụng / Đừng để màn đên bao phủ mối tình / Như những chiếc đò không bến đợi / Đừng như cây dầu lẻ giữa rừng già.</i></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Cộng đồng Mạ có đời sống văn hóa tinh thần phong phú, những giá trị di sản văn hóa của người Mạ thể hiện qua tín ngưỡng, lễ hội, văn hóa, văn học nghệ thuật dân gian khá độc đáo. Mặc dù bị nhiều yếu tố tác động, biến đổi, giá trị truyền thống dần mai một do thế hệ trẻ ít quan tâm đến di sản văn hóa cộng đồng trong đó phải kể đến những hạn chế do các phương tiện đa truyền thông tác động, nhưng bên cạnh đó cũng mang tính tích cực như loại bỏ những hủ tục, mê tín, tập tục hà khắc, thủ tục rườm rà,…góp phần làm đẹp thêm nền văn hóa đậm đà giàu bản sắc dân tộc Việt Nam. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><i><u><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Tài liệu tham khảo:</font></span></u></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">1. Văn hóa người Mạ / Huỳnh Văn Tới, Lâm Nhân, Phan Đình Dũng.  – Nxb. Văn hóa dân tộc, 2013.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">2. Người Mạ ở Việt Nam / Phạm Tuân, Thúy Hằng. – Nxb. : Thông tấn, 2014</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">3. Địa chí Đồng Nai, tập 5: Văn hóa – xã hội. – Nxb. Đồng Nai, 2001.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:right;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Như Quỳnh</font></span></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/11/2017 10:00 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 469</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 21 Nov 2017 03:03:31 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=44</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nghề săn bắt voi rừng của người M’nông</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=64</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8A27100F228D45EBB9FD91C02B6C7DC9><div class=ExternalClass1FD1457A20D7404C943BD1A44E90BA7A>
<p class=Bodytext21 style="text-indent:28.1pt;margin:0cm 0cm 0pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US style="font-style:normal;font-weight:normal"><font face="Times New Roman">Dân tộc M’nông là một trong những cư dân bản địa, do cư trú ở vùng sinh thái tự nhiên đa dạng có rừng núi, sông suối, đầm hồ, thung lũng, là nơi quần tụ, sinh sống của nhiều bầy đàn voi rừng nên người M’nông rất am hiểu đời sống của loài voi và đã hình thành nghề săn bắt voi. Đây là một nghề quan trọng trong hoạt động mưu sinh của người M’nông.</font></span></span></span></p>
<p class=Bodytext21 style="text-indent:28.1pt;margin:0cm 0cm 0pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%;tab-stops:61.7pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US style="font-style:normal;font-weight:normal"><font face="Times New Roman">Nghề săn voi</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="line-height:16.2pt;text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 2.75pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Nghề thuần dưỡng voi rừng của đồng bào M’nông gồm 2 bước chủ yếu: bắt voi rừng và thuần dưỡng. Trong đó, bắt voi là khâu quan trọng trong quá trình thuần dưỡng voi. Nó chẳng những cung cấp voi để thuần dưỡng mà còn có thể bán ngay voi rừng cho vườn thú, rạp xiếc hoặc xuất khẩu.</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="line-height:16.5pt;text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 2.65pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Một đội săn phải có 10 voi chiến, 20 người cả nài chính (gru), phụ (rmăk) và người chỉ huy. Các con voi tham gia săn bắt đều là voi đực khỏe trên 35 tuổi, voi cái ít khi được sử dụng.</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 3.25pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Với những nguyên vật liệu sẵn có từ núi rừng, qua nhiều đời tích lũy, đồng bào đã cho ra đời những dụng cụ phục vụ cho nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng hết sức hiệu quả. Nếu tính đầy đủ, người M’nông có đến 17 dụng cụ khác nhau như dây buộc voi bằng da trâu <i>(brăt bung),</i> dùi móc điều khiển con voi (<i>kreo),</i> tù và <i>(h’nung), </i>còng khoá chân voi <i>(brớt bung),</i> cái thúc voi chạy <i>(kuc), </i>roi đánh voi <i>(mâng rplei),</i> quàng cổ mây (<i>đam</i>), dây xích chân voi (ng<i>lêng),</i> dùi xỏ lỗ tai voi (<i>pon toc),</i> bành voi <i>(vơng),</i> chiếc lục lạc đeo cổ voi (<i>mang),</i> vỏ cây đập dập để lót lưng voi trước khi đặt bành <i>(dur),</i> sừng min dùng để múc nước <i>(ke kun)....</i> Các dụng cụ đều được phối hợp sử dụng một cách nhịp nhàng, ăn ý, hỗ trợ nhau tạo ra hiệu quả cao cho người thợ săn. Không kể lương thực, thực phẩm, mọi thứ đều do các gia đình thành viên trong tổ tự nguyện đóng góp.</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 3.25pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Voi là loài vật sống không định cư một chỗ, thích lang thang đây đó, cũng là lý do để nó tồn tại, không là mục tiêu cố định cho những kẻ muốn tấn công chúng. Đối với những người đi săn voi cũng vậy, có thể tháng trước, khi đi trinh sát thì thấy voi đang ăn ở khu vực này, nhưng khi tổ chức được đội săn và tiếp cận đến nơi thì voi đã di chuyến đi kiếm ăn ở vùng khác rồi. Voi là loài thú rất thính tai và đánh hơi được rất xa, do vậy, việc tiếp cận được chúng cũng không dễ dàng. Khi đội săn đã bắt gặp đàn voi do trinh sát phát hiện, lập tức sẽ dừng lại, làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Cũng cần nói thêm rằng, một đội voi có thể có nhiều thành viên, chủ yếu là những người có voi đực (voi chiến), nhưng trước khi bước vào mùa săn, đội phải tính toán số voi chiến có đủ mạnh để áp đảo voi rừng hay không. Căn cứ bầy voi họ đã thực tế nhìn thấy, tính toán, lực lượng chiến đấu, nếu như đội thiếu voi chiến, có khi thương lượng để mượn voi chiến của đội khác, ở đây, chính là sự thể hiện tinh thần tương thân, tương ái của đồng bào M’nông trên quê hương của những dũng sĩ săn voi.</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 3.25pt 0cm;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Khi phát hiện đúng đàn voi của mình (trong mùa săn có rất nhiều đội săn, nên khi về buôn, người đội trưởng thông báo ngay đàn voi đã gặp để các đội khác biết tránh việc hai đội săn gặp một đàn voi), toàn đội săn được lệnh dừng lại. Các nài phụ (rmăk) chăm lo cho việc ăn uống của voi, các nài chính (gru) sẽ cùng đội trưởng bí mật tiếp cận đàn voi. Đội trưởng phân công nhiệm vụ cho từng người cụ thể: ai đánh, ai kiềm chế và rượt đuổi, ai quăng tròng bắt voi, v.v...</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="line-height:16.65pt;text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 0pt 0cm;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Vào lúc rạng đông ngày trăng vơi (cuối tháng), đội quân bắt đầu vào trận theo lệnh của đội trưởng, các nài điều khiển voi của mình áp sát khu vực có đàn voi đang kiếm ăn.</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="line-height:16.5pt;text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 0pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Đàn voi rừng đang vặt cỏ, bẻ lá cây kiếm ăn, chúng không ngờ được sự nguy hiểm đang tới gần. Bản năng đánh hơi lạ của voi đã bị vô hiệu hóa, vì con người đã được phơi gió dầm sương suốt cả cuộc hành trình, hơi người tỏa ra rất ít, hòa lẫn vào hơi voi nhà nên bầy voi rừng không nhận ra được mùi lạ. Voi săn lần lượt được tung vào trận địa. Nài nằm rạp trên mình voi, bám thật chắc lấy dây chằng bụng và bí mật điều khiển voi tiếp cận đối thủ. Giữa lúc đó, đội trưởng điều khiển voi chiến của mình cùng hai voi khác tiếp cận voi đầu đàn. Đây là thời điểm căng thẳng nhất. Nếu voi săn vẫn chưa áp sát vào voi định bắt, nếu xảy ra cuộc chiến lúc này dễ nổi loạn, thậm chí voi mẹ có thể dẫn đàn con chạy mất thì voi nhà trở thành thua cuộc.</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="line-height:16.35pt;text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 7.9pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Khi con voi đầu đàn phát hiện thấy đàn voi lạ xâm nhập vùng đất của mình, lâp tức nó rống lên một tiếng dữ dội rồi vươn vòi lao tới kẻ lạ mặt. Từ lúc này, tất cả mọi người nhỏm dậy trên lưng voi, dùng giáo đâm, dao gạt, hỗ trợ cho voi của mình chiến đấu. Các voi chiến dùng ngà lao vào đối phương hoặc dùng vòi đánh voi đực đầu đàn. Đúng lúc này, voi săn cũng áp sát voi con đang được voi mẹ che chở. Trận quần thảo quyết liệt chừng một giờ đồng hồ. Voi rừng yếu thế buộc phải bỏ chạy. Lúc này, dưới sự điều khiển của đội trưởng, ba voi chiến vây hãm voi đầu đàn lại, để cho các con voi khác rượt đuổi. Người quăng tròng bám sát voi con đang chạy theo voi mẹ. Voi con chạy một lúc tỏ ra mệt, loạn nhịp bước. Họ cố làm sao tách được voi mẹ chạy theo đường khác bằng voi phụ trợ, còn voi chính sẽ đuổi theo voi con, dùng dây tròng móc lấy chân sau của voi con. Khi móc được rồi để cho voi con chạy thêm ít bước nữa, lựa một cây to nào đó trên đường chạy, nhanh chóng quăng dây cột lại, voi con chạy vòng quanh theo thân cây như tự trói mình tại chỗ. Đến đây, coi như mục đích của cuộc săn đã xong.</font></span></span></span></p>
<p class=BodyText20 style="line-height:16.35pt;text-indent:28pt;margin:0cm 1pt 7.9pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Voi tạo nên những nét riêng biệt và nổi bật trong văn hóa dân gian của dân tộc M’nông. Từ văn học nghệ thuật, lễ hội tín ngưỡng, phong tục tập quán, nếp sống đến các mối quan hệ xã hội, cộng đồng đều có sự hiện diện vai trò của con voi. Trong ca dao, tục ngữ nói về con voi chứa đựng không ít tri thức của đời sống; trong nghệ thuật điêu khắc, hình tượng voi đạt đến sự hoàn chỉnh, lý tưởng của cái đẹp; trong lễ nghi, tín ngưỡng, phong tục con voi được quan niệm với một ý nghĩa thiêng liêng huyền bí. Con voi cũng là một “mắt xích”, một yếu tố quan trọng trong sự vận hành, phát huy luật tục M’nông. Nó còn giúp cho tri thức bản địa cùng với truyền thống văn hóa dân gian người M’nông thêm phong phú, đa dạng, sinh động tạo sự gắn bó khăng khít và hòa mình với thế giới tự nhiên của người dân.</font></span></span></span></p>
<p style="text-align:right"> <span style="font-size:small"><em><strong>Hồng Hạnh</strong></em></span></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 05/06/2018 2:15 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.567</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 05 Jun 2018 07:22:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=64</guid>
    </item>
    <item>
      <title>RƯỢU CẦN VÀ CỒNG CHIÊNG NGÀY TẾT CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=47</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE84DFE90781B4B26A02AEB7B4ECFFF2A><div class=ExternalClass353736F3A547481A865D56E5416FBE88>
<div class=ExternalClassF5A80045C8CA4995A502698DA3277597>
<div class=ExternalClass665E7928E64B4CE488DEABAD45ABF19E>
<div class=ExternalClassF6129929E1AB42929DF08374F42C481A>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Không biết rượu cần có từ bao giờ, rượu cần lại gắn bó mật thiết với đời sống đồng bào các dân tộc Chơro, Mạ, S’tiêng, Kơho,… là các dân tộc bản địa, có lịch sử cư trú lâu đời ở Đồng Nai. Uống rượu cần trở thành phong tục, thành nét văn hóa đặc trưng trong đời sống của người dân tộc. Rượu cần là một thức uống luôn có mặt trong các dịp lễ hội, các cuộc vui, đón khách quý hay bạn bè phương xa. Vì thế mỗi chén rượu cần chính là sợi dây gắn kết từng cá nhan với cộng đồng, giúp mọi người xích lại gần nhau hơn, đoàn kết giúp nhau trong sản xuất, trong đời sống,…</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Những vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống thường có tục uống rượu cần và đánh cồng chiêng vào các dịp lễ hội, vui tết. Đây là một sinh hoạt văn hóa truyền thống của các dân tộc. Theo truyền thống, nếu tháng ba âm lịch được xem là tháng tết quan trọng của đồng bào sau khi đã thu hoạch xong mùa vụ và chuẩn bị cho mùa vụ mới thì những thập niên gần đây, các tộc người bản địa ở Đồng Nai cũng như một số tộc người anh em khác cùng có thêm niềm vui chung đón xuân cổ truyền của người Kinh. Vào ngày ấy, họ cũng trang hoàng nhà cửa, mua sắm đồ đạc và làm rượu cần để mừng chào đón năm mới.</span><span style="border-bottom:black 1pt;border-left:black 1pt;padding-bottom:0in;padding-left:0in;layout-grid-mode:line;padding-right:0in;font-family:'Times New Roman','serif';background:black;font-size:0pt;border-top:black 1pt;border-right:black 1pt;padding-top:0in"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Vượt qua dòng suối Sa Mách, chúng tôi tìm đến nhà già làng Năm Nổi. Vừa vào đến nhà thì các con của ông cũng vừa đi rừng về. Bốn chiếc gùi to để trên sàn đầy ắp những loại cụ, rễ, vỏ, lá… cây rừng dùng làm men rượu để chuẩn bị đón “tết Kinh” và tết dân tộc như đồng bào ở Tà Lài. Cả thảy có hơn bốn mươi loại với nhiều mùi hương và công dụng khác nhau. Điều này xét về khía cạnh nào đó đã phản ánh rõ nét đặc thù của một dân tộc ít người sống nhờ vào rừng núi, lệ thuộc thiên nhiên. Hiện nay, trong các buôn làng dân tộc, không phải bất kỳ ai cũng biết làm rượu cần và việc pha chế được ché rượu ngon lại càng là điều đáng nói. Dù có đôi lần được dịp thưởng thức rượu cần của đồng bào dân tộc ở Tà Lài, Bàu Trâm, Xuân Trường, Túc Trưng…, trong thâm tâm chúng tôi vẫn thích dự vị rượu cần do già làng Năm Nổi đặc chế. Nó có những độc đáo riêng khiến người đã từng nếm qua không dễ gì quên được.</span><span style="border-bottom:black 1pt;border-left:black 1pt;padding-bottom:0in;padding-left:0in;layout-grid-mode:line;padding-right:0in;font-family:'Times New Roman','serif';background:black;font-size:0pt;border-top:black 1pt;border-right:black 1pt;padding-top:0in"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img alt="" align=right width=370 height=259 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/ruou-can21112017_16166.jpg">Dù đón “tết Kinh” hay tết của dân tộc mình, đồng bào cũng đều có sự chuẩn bị. Riêng đối với tết truyền thống của dân tộc mình, đồng bào sẽ tổ chức công phu và thực hiện những nghi thức cúng tế trang trọng. Trong lúc quây quần vui vẻ bên nhau sẽ chẳng thể nào thiếu vắng tiếng cồng chiêng, hòa tấu nhạc cụ, các bài hát, điệu múa và rượu cần bao giờ cũng được xem là loại đặc sản dùng để thết đãi mọi người. Để có được rượu cần, chủ nhân phải có sự chuẩn bị từ rất sớm và việc chế biến cũng lắm công phu, từ khâu làm men cho đến lúc miệng ché được gài chặt lại.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Rượu cần được ủ trong vò, chĩnh hay ché, cũng gần giống như rượu nấu, nhưng khi uống thì đổ nước vào. Rượu ngon hay không một mặt tùy thuộc vào loại lương thực, nguyên liệu làm men nhưng điều quyết định hơn cả là kinh nghiệm, bí quyết pha chế mà có hương vị khác nhau. Rượu ủ càng lâu càng ngon, nhưng người đặc chế phải có kinh nghiệm và phương pháp để rượu không bị hư hoặc khô. Thông thường, chỉ một tháng là uống được. Rượu có màu đục lờ lờ, ngay ngáy mùi lá tươi, nếu uống nhiều cũng bị say không kém gì rượu đế của người Kinh. Trong tiệc rượu cần, mọi người đều tự nguyện tham gia, tự nguyện nhận thưởng, nhận phạt bình đẳng như nhau. Để uống được rượu, phải sử dụng cần được làm bằng cây trúc, mỗi lượt có thể từ hai đến bốn người cùng thưởng thức. Để trấu không nổi lên, dùng lá chuối khô hoặc lá trung quân lèn lên trên cùng của ché rượu sau khi đã khui lớp tro bếp đậy miệng ché và cắm cần vào. Sau khi đổ nước vào, chủ nhân phải uống thử, khi đã vừa ý thì mời người khách quý nhất uống trước, và khi cần đã đưa cho ai thì người đó không được từ chối. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Định mức uống nhiều hay ít do hai bên bàn bạc và chủ nhà sẽ làm trọng tài theo dõi, với cách tính là lượng nước đổ châm thêm vào ché và được đo bằng thanh cò gọt đẽo tử mãnh thanh tre. Khi nào cò không còn chấm mặt nước thì đã uống đủ lượng rượu theo quy định. Trước đây, theo truyền thống, đồng bào thường dùng sừng trâu để đong nước. Cứ uống cạn <i>“một trâu”</i> tức là hai sừng. Ngày nay định mức ấy được tính bằng chén hoặc tô. Điểm độc đáo dễ nhận thấy trong tiệc rượu cần là chế độ mẫu hệ vẫn còn ảnh hưởng trong sinh hoạt tinh thần của đồng bào, bởi lẻ tùy thuộc vào mức độ quan hệ và tuổi tác, người nữ bao giờ cũng được mời uống trước.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';background:white;font-size:14pt">Rượu cần vừa rất thực, vừa rất thiêng. Đến bất cứ nhà nào của đồng bào các dân tộc Chơ ro, Mạ, S’tiêng, Kơho,… ở các huyện tỉnh Đồng Nai trong những ngày Tết, mọi  người sẽ thấy ít nhất năm, bảy ghè rượu xếp thành hàng, ngay ngắn bên vách sàn.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sẽ là thiếu sót và thiệt thòi lớn cho khách miền xuôi lên dự tiệc rượu cần mà không thưởng thức được âm vang của làn điệu cồng chiêng. Đối với đồng bào dân tộc, cồng chiêng là loại nhạc cụ độc đáo và quý giá nhất. Mỗi bộ tính giá bằng dăm ba con trâu là chuyện bình thường. Được sở hữu một bộ cồng hoặc chiêng là sở hữu một tài sản có giá trị lớn về vật chất cũng như tinh thần. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Theo các nhà nghiên cứu về văn hóa dân gian, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiếc chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Không chỉ là một nhạc cụ, cồng chiêng còn có chức năng như một sợi dây linh thiêng, nối liền giữa con người với thần linh. Cồng chiêng có mặt trong mọi giai đoạn sống của con  người từ khi sinh ra, trưởng thành cho đến khi giã biệt cõi đời. Tiếng cồng chiêng trong lễ cầu hôn nhắc nhở trai gái yêu thương bền chặt, thủy chung, giữ trọn đạo nghĩa vợ chồng; trong lễ mừng lúa mới thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã, chiêng bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn….</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Giống như nhiều dân tộc ít người khác sinh sống trên dọc dãy Trường Sơn, trong vốn âm nhạc cổ truyền của các tộc người bản địa ở Đồng Nai, nghệ thuật cồng chiêng nổi lên như một viên ngọc sáng. Cồng chiêng gắn bó với cộng đồng dân tộc như máu thịt, nó trở thành biểu tượng cho sức mạnh vật chất, sức mạnh tinh thần của đồng bào. Nghệ thuật cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng của các tộc người bản địa Đồng Nai mang nhiều nét chung của cồng chiêng Tây Nguyên, đồng thời cũng có rất nhiều yếu tố độc đáo, mang tính đặc thù của dân tộc mình, tự thân nó khẳng định được chỗ đứng vững chắc, một giá trị đáng tự hào trong đại gia đình cồng chiêng Việt Nam.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img alt="" align=right width=367 height=246 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/cong-chien21112017_161640.jpg">Mỗi bộ cồng hoặc chiêng có trung bình từ năm đến bảy chiếc. Từng chiếc có âm thanh và ý nghĩa riêng biệt. Người được chọn đánh cồng chiêng thường là các cụ già hoặc những người am hiểu niêm luật chặt chẽ và tiết tấu của thanh điệu cồng chiêng. Trong âm vang hùng tráng, thôi thúc, những người tham gia biểu diễn dàn nhạc hòa tấu cồng chiêng cùng nhảy múa thật hào hứng, sôi động và hầu như quên hết những hệ lụy của cuộc sống đời thường.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Cứ sau mỗi tuần rượu cần, tiếng cồng chiêng lại nổi lên tưng bừng, rộn rã. Và sau đó tạm ngưng lại nhường chỗ cho những lời hát đối đáp, những bản trường ca, những bài ca dao, dân ca được diễn đạt bằng tiếng dân tộc, đôi khi pha lẫn bài hát của người Kinh. Trong lễ hội truyền thống, đồng bào tái hiện và biểu diễn những giá trị văn hóa dân gian truyền thống mang tính tiêu biểu, đặc trưng của dân tộc mình, mang đậm sắc thái của cộng đồng dân tộc đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu đời, gây nhiều ấn tượng không dễ gì quên.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Rượu cần và cồng chiêng – nét sinh hoạt văn hóa truyền thống đã giữ vị trí xứng đáng trong kho tàng văn hóa dân gian các tộc người bản địa ở Đồng Nai, mang nhiều sắc thái cổ kính mà cũng rất trẻ trung.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:right;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">_Thanh Vân_</span></i></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/11/2017 4:05 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.109</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 21 Nov 2017 09:16:49 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=47</guid>
    </item>
    <item>
      <title>TÍN NGƯỠNG - LỄ HỘI CỦA NGƯỜI MẠ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=10</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass60BA9775D74B454EAE24A263C1610283><div class=ExternalClass4AA7BF6DD1AC41938F224C359E458D77>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Theo các nhà nghiên cứu, người Mạ là tộc người đã có mặt rất sớm ở vùng miền Đông Nam Bộ, là cư dân bản địa của tỉnh Đồng Nai. Xưa kia họ đã lập nên một tiểu vương quốc của người Mạ ở khu vực Đồng Nai thượng nam Lâm Đồng, đại khái ranh giới phía Nam là sông La Ngà, phía Bắc là vùng Đức Trọng (Lâm Đồng), phía Đông giáp Bình Thuận, phía Tây giáp Bình Phước. Vương quốc Mạ nằm trên phần lớn cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc, nửa phía Bắc huyện Định quán và toàn huyện Tân Phú hiện nay.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Dân tộc Mạ là một cộng đồng người thống nhất, có tên gọi, ngôn ngữ, ý thức chung về tộc người của mình, tự phân biệt mình với các dân tộc láng giềng. Ngoài tộc danh thống nhất là Mạ, họ còn được gọi là Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ. Cộng đồng người Mạ trong quá trình tồn tại và phát triển của mình đã phân định thành một số nhóm địa phương – chủ yếu như Mạ Ngan <i>(Mạ chính dòng)</i>, Mạ Xôp <i>(người Mạ ở vùng đá phiến)</i>, Mạ Tô <i>(người Mạ vùng thượng nguồn sông Đồng Nai)</i>, Mạ Krung <i>(người Mạ vùng đồng bằng)</i>, Mạ Xrê <i>(người Mạ làm ruộng)</i>…</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img align=right width=285 height=289 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-10/nguoi-ma17102017_153613.jpg">Người Mạ không có nhiều họ như người Chơ-Ro. Họ phổ biến của người Mạ ở Đồng Nai là K’ (dành cho nam) và Ka (dành cho nữ). Tiếng nói của người Mạ và người Kơ Ho gần giống nhau, chưa có chữ viết riêng.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Mạ ở Đồng Nai hiện có 564 hộ với 2.577 khẩu (số liệu của Ban Dân tộc tỉnh, tháng 6/2009), đứng thứ 10 trong số hơn 40 dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn tỉnh, hầu hết tập trung ở huyện Tân Phú và Định Quán và ngoài ra còn có một số xã khác như Phú Bình, Phú Sơn, Phú Tân…</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Tín ngưỡng nguyên thủy của người Mạ là thờ đa thần với quan niệm vạn vật hữu linh. Họ cho rằng chết là linh hồn rời khỏi xác về sống với tổ tiên và tiếp tục sống ở một thế giới khác. Họ tin vào một thế giới siêu hình tồn tại song song với thế giới thực tại mà họ đang sống. Thế giới siêu hình ấy là nơi tồn tại, ngự trị của các thần linh (đại diện cho điềm lành) và có cả ma quỷ (đại diện cho điều ác) có khả năng chi phối con người.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Các thế lực thiên nhiên mà họ không hiểu, không lý giải được thường được họ coi là thần. Người Mạ quan niệm về một vị thần tối thượng có tên là Yang Ndu. Vị thần vô hình này có tài năng siêu phàm, đóng vai trò quan trọng nhất. Trong các lễ cúng, người Mạ thường đọc lời khấn Yang Ndu trước tiên. Họ cho rằng vị thần này tạo nên thế giới rộng lớn, tổ tiên người Mạ được Yang Ndu dựng nên, giúp đỡ duy trì nòi giống cho đến nay. Nhờ Yang Ndu chỉ dẫn mà tổ tiên người Mạ biết làm rẫy, săn thú, dệt vải… được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Dưới Yang Ndu là hàng loạt các vị thần khác như Yang Koi <i>(thần lúa)</i>, Yang Bri <i>(thần rừng)</i>, Yang Dah <i>(thần nước)</i>, Yang Bơnơm <i>(thần núi)</i>, Yang Hiu <i>(thần nhà)</i>, Yang Luh <i>(thần đá)</i>… Xuất phát từ quan niệm các thần linh có mặt khắp nơi, chi phối đến đời sống con người, người Mạ tổ chức rất nhiều lễ cũng khi ốm đau, làm nhà, ma chay, canh tác mùa vụ… Họ thường cúng các vị thần liên quan đến công việc của mình như đi săn thì cúng Yang Bri, cầu cho bắt được nhiều thú, làm nhà thì cúng Yang Hiu, mong nhà cửa yên ổn không bị bệnh tật, thu hoạch mùa vụ xong thì cúng Yang Koi…</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Trong một năm, người Mạ có rất nhiều lễ cúng. Quan trọng nhất là lễ cúng Yang Bonơm và Yang Koi với sự tham gia đông đảo của cộng đồng. Yang Bơnơm thường được tổ chức cúng vào cuối năm âm lịch. Một ngon núi được xem là linh thiêng là nơi thần linh ngự trị sẽ được chọn để làm lễ. Người cúng là người có uy tín trong cộng đồng thay mặt dân làng hành lễ, cầu xin phúc đến trừ họa cho mọi người.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img align=right width=425 height=271 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-10/le-cung-yang-koi17102017_153641.jpg">Lễ cúng Yang Koi là lễ cúng lớn nhất của người Mạ. Thời gian cúng thường vào tháng hai đến tháng ba âm lịch, khi mà người Mạ đã thu hoạch xong mùa màng (tương tự lễ cúng Yang Va của người Chơ-ro). Trước đây lễ cúng được tổ chức tại nhà dài nhưng gần đây do kết cấu cộng đồng có sự thay đổi nên mỗi nhà tùy theo điều kiện tự tổ chức. Và đây cũng là dịp lễ tết của đồng bào Mạ.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Để tổ chức lễ cúng, đàn ông Mạ vào rừng chọn những cây tre cao, thẳng đem về khoảng sân trước nhà để hành lễ. Họ lấy hai cây tre non cao từ 3 đến 4 mét chẻ thành các nhánh được trang trí bằng những hình vuông với các chùm bông tua ra. Chính giữa cây tre cắm chùm bông cây mây tượng trưng cho bông lúa. Những hoa văn hình học trên các vật trang trí thể hiện qua các tay dan, các dây kết nối từ gốc đến ngọn chẻ thẳng lên trời cao. Cây tre được phân chia thành nhiều nấc với các hình vuông, tròn bao trùm và tỏa xuống dưới gốc có nhiều dây trang trí hình tượng con dê bằng lạt tre rất sinh động. Hai cây tre này được chôn trước sân, ở mỗi bông xòe ra cài một chén cơm nhỏ. Dưới gốc tre là những chóe rượu cần được bày sẵn. Lễ vật tùy theo điều kiện kinh tế của buôn làng, già làng đứng ra làm chủ tế. Ở từng hộ riêng, tùy khả năng mà gia chủ giết gà, vịt hay heo, dê, trâu để làm lễ cúng và gia chủ tự cúng tại gia đình, không mời thầy Cúng hoặc bà Bóng.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Lời khấn vái có nhịp điệu, tiết tấu, nội dung cụ thể và không có tinh van lơn như lời khấn của người Kinh:<i> “Ơ Thần Lúa ! Lúa dưới nước, dưới bùn hãy về nhà tôi ăn gà, vịt với tôi. Đây là lần cuối tôi thu hoạch được mùa trong năm. Tôi lạy Thần Đất, Thần Lúa đã cho tôi thu hoạch được mùa vừa qua”, hoặc “Năm nay tôi uống mừng lúa. Tôi cúng heo cho Thần Lúa mong cho có lúa ăn đừng hết. Tới năm sau làm nữa thì có nữa. Mong Thần Lúa đừng làm cho tôi đói, tôi làm rẫy có cơm ăn. Tôi mời Thần Lúa ăn con heo, uống rượu, ăn cơm nết. Tôi mừng Thần Lúa. Tôi ăn đến mùa tới. Sang năm tôi lại làm ba lần cho Thần Lúa ăn. Trước tháng 4 cúng con gà. Bắt đầu tháng 7 cúng Thần con vịt. Tháng 11 tôi có nhiều lúa, tôi cúng Thần Lúa con heo. Năm nay Thần Lúa cho tôi ăn, tôi làm nữa để lại có cơm ăn…”.</i></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Thực hiện nghi thức tế lễ là vài ba vị già làng có uy tín, kinh nghiệm. Sau khi các già làng thực hiện xong những nghi thức hiến sinh (đọc lời khấn cúng thần linh, ông bà tổ tiên, đàn trâu, bò, dê…), bên cạnh đống lửa to giữa sân lễ, đồng bào nhảy múa, ca hát, biểu diễn các loại nhạc cụ, các trò chơi dân gian, mời nhau uống rượu cần, ăn thịt nướng, các loại bánh, thức ăn… đã được các gia đình chuẩn bị trước từ nhà và mang đến chung vui. Không khí lễ hội thật tưng bừng, rộn rã. Các buôn làng lân cận cũng được mời đến tham dự. Người Mạ có tục “chia thịt” cho các thành viên trong cộng đồng. Trong lễ đâm trâu, thịt của các con vật hiến sinh một phần được dùng nấu, nướng để người tham gia lễ hội cùng ăn, phần còn lại cắt ra thành từng miếng nhỏ và xâu vào trong que tre để chia cho từng gia đình trong làng. Thông thường, sau ba ngày, lễ hội kết thúc nhưng các vị lớn tuổi trong làng ăn uống cho tời ngày thứ bảy mới thôi.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Theo truyền thống, lễ hội Yang Koi kéo dài đến 3 ngày đêm, có khi cả tuần lễ chủ yếu là các hoạt động vui chơi của thanh niên. Nhưng ngày nay, việc tổ chức lễ hội thường chỉ diễn ra trong một ngày đêm. Dẫu quy mô, nghi thức đã giản tiện hơn trước đây nhưng lễ cúng Yang Koi vẫn được tôn trọng trong đời sống tâm linh dân tộc Mạ. Đây là lễ cúng mà người Mạ quan niệm rằng vị thần này liên quan trực tiếp đến lương thực của cuộc sống cộng đồng họ.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:right;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">_Thanh Vân_</font></span></i></b></p>
<p> <img src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-10/ngang17102017_153727.jpg" width=642 height=28></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 17/10/2017 3:35 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 354</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 17 Oct 2017 08:36:51 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=10</guid>
    </item>
    <item>
      <title>MỘT SỐ LỄ HỘI TIÊU BIỂU CỦA ĐỒNG BÀO CHĂM</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=29</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass42D079A24F9848E3B9373BAE96F09EE2><div class=ExternalClass9E13F4B6F4B443EF9CC8EF48DA02D37D>
<div class=ExternalClassFA99415E7794410A92AF095D6366DC5E>
<div class=ExternalClass536F740CF38E477BB41C86FDBACDFA17>
<div class=ExternalClassCEA04B2358ED4D13A04712E0D7702744>
<div class=ExternalClass3AB6FF6E018B4E0C96E73B2D05C4C62B>
<div class=ExternalClass08DA36367A0647B38CBB779D31B301F3>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code> </code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">     Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 1996, người Chăm ở Đồng Nai có 1.854 nhân khẩu (đứng thứ 7/40 dân tộc ít người trên toàn tỉnh). Đồng bào Chăm ở Đồng Nai sống chủ yếu tại ấp 4, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc; ấp 6 và ấp 10 xã Bình Sơn (Long Thành) tính đến năm 2017, đã có hơn 430 hộ, trên 2.100 nhân khẩu, chiếm gần 90% tổng số người Chăm sinh sống trên địa bàn tỉnh. Người Chăm – Xuân Hưng theo Đạo hồi Islam, sống tập trung thành làng quanh thánh đường Hồi giáo và có khá nhiều phong tục độc đáo. Trong đó Thánh đường Hồi giáo ở xã Xuân Hưng là thánh đường Hồi giáo lớn nhất Việt Nam tại thời điểm khánh thành (2006).</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%;color:black">     <img alt="" align=middle width=500 height=288 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/Thanh%20duong%20Hoi%20giao%2023112017_154553.jpg"></span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%;color:black">     Ngày nay, trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong dịp lễ hội, người Chăm ở Đồng Nai không sử dụng một loại nhạc cụ nào, chỉ sử dụng một cái trống nhỏ, vỗ hai đầu, gọi là Rapna. Riêng ở Xuân Hưng, có thêm một loại trống đứng (vỗ một đầu), sử dụng một cặp phục vụ các buổi sinh hoạt văn nghệ.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">     Về lễ hội, người Chăm ở Đồng Nai còn giữ rất nhiều phong tục lễ hội độc đáo trong năm như: lễ cắt tóc đặt tên, lễ cưới, lễ tang cổ truyền, lễ Asura (Nhớ ơn Thượng đế), lễ Tâp la (lễ xin cho qua những việc xấu, xui xẻo trong năm), lễ Ramadon (tháng ăn chay)… , thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kì năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Tuy nhiên có 3 lần lễ lớn : Lễ Roya Haji, Lễ Ramadan, Lễ Bon Katê.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><b><span style="line-height:115%">     Lễ Roya Haji - Tết dân tộc</span></b><span style="line-height:115%">: Từ 10 - 13/12 âm lịch</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">    </span></span></big></code></tt></samp></span><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">Trong những ngày lễ này, người Chăm tề tựu về hành lễ tại thánh đường rất đông, mổ bò, dê chia cho cả làng ăn Tết, tạo thành nét sinh hoạt văn hóa truyền thống hết sức độc đáo và thú vị, người Chăm thêm một tuổi mới. </span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%"><img align=absMiddle width=500 height=364 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/tet3112017_15483.jpg"></span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"> </div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">     Trước khi bước vào lễ hội Roya Haji, các làng Chăm thực hiện nghi lễ Qur ban làm thịt một con vật như: bò, cừu, dê… lễ dâng tế đến thánh ALLA. Sau khi con vật được làm thịt sẽ phân phát cho bà con trong làng cùng thưởng thức. Trong những ngày Tết Roya Haji, mọi người đều mặc trang phục dân tộc truyền thống đẹp nhất mà mình có. Khoảng 7 giờ sáng, đàn ông, con trai từ 15 tuổi trở lên tập trung tại Thánh đường làm lễ, sau đó bắt tay mọi người xin tha thứ lỗi lầm và xóa bỏ những hiềm khích trong năm qua. </span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">     Cũng trong ngày Tết Roya Haji, mọi người khi ra đường gặp nhau chào hỏi đều phải nói “Am má” (xin tha thứ) và người kia cũng đáp lại như vậy, nên ý nghĩa đầu tiên của ngày này là xin lỗi và sự tha thứ. Chính vì vậy, cộng đồng người Chăm còn gọi lễ hội này là “Roya yêu thương”</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><b><span style="line-height:115%">     Lễ Ramadan - lễ nhịn ăn hoặc tháng ăn chay</span></b><span style="line-height:115%">: từ mùng 1 – 30/9 theo lịch hồi giáo.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">     Bước vào tháng Ramadan, trừ trẻ em dưới 15 tuổi, mọi người Chăm còn lại phải nhịn ăn, nhịn hút thuốc lá, nhịn uống (khi tắm cũng không để cho nước ngập đến lỗ tai). Cũng không được sát sinh hại vật, và nhất là không gây gổ, cãi vã làm mất đoàn kết với bất cứ ai từ 4 giờ 15 phút đến 18 giờ 15 phút mỗi ngày để tự kiểm điểm lại những hành động đúng - sai của mình trong từng ngày, từng tháng của năm qua nhằm khắc phục, sửa chữa những hành vi sai trái. Trong thời gian thực hành tháng Thánh lễ, không được tổ chức vui chơi, hát xướng.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">     Sau giờ này, người ta có thể ăn uống thoải mái. Những người già cả, bệnh tật không thể nhịn ăn thì phải “trả gạo” mỗi ngày 1 kg để san sớt cho người nghèo. Ý nghĩa của lễ Ramadan này là sự sẻ chia, cảm thông với những người nghèo khó, thiếu ăn, thiếu mặc trong cộng đồng để mọi người yêu thương nhau hơn; đồng thời rèn luyện cho họ sự tiết chế, chống những cám dỗ vật chất.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><b><span style="line-height:115%">     Lễ Bon Katê - gọi tắt là lễ Katê</span></b><span style="line-height:115%">: vào ngày 1 tháng 7 theo lịch của đồng bào Chăm.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">     Lễ hội này của người Chăm trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. </span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%">     Đây là một lễ hội dân gian thiêng liêng đặc sắc và rất quan trọng. Tưởng nhớ đến những người đã khuất, tưởng nhớ đến các vị anh hùng dân tộc (được người Chăm tôn vinh làm thần). Trong ngày này, người dân tập trung tại các đền tháp cổ kính, thưởng thức các điệu múa nhạc dân gian trong kho tàng âm nhạc của người Chăm. Mọi người nghỉ ngơi và tràn ngập niềm vui, đi thăm viếng chúc tụng lẫn nhau. Lễ hội Katê diễn ra theo tình tự các bước đã có truyền thống từ xa xưa, bao gồm lễ rước y trang, lễ mở cửa tháp, lễ tắm tượng thần, lễ mặc y phục cho tượng thần và sau cùng là đại lễ. Lễ hội tại đền tháp do Ban tế lễ là các chức sắc đạo Bàlamôn gồm: Thầy cả sư (Pô Dhia) làm chủ lễ, thầy kéo đàn Kanhi - hay còn gọi là thầy cò ke (Ôn Kadhar), bà bóng (Muk Payâu) dâng lễ và ông từ (Camưnay). Lễ vật dâng cúng gồm: 1 con dê, 3 con gà làm lễ tẩy uế đất tháp, 5 mâm cơm cúng có thịt dê, 1 mâm cơn với muối vừng, 3 ổ bánh gạo và hoa quả.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%;color:black">     Lễ hội Katê là hình thức sinh hoạt lễ hội đặc sắc nhất của đồng bào Chăm, cuốn hút tất cả mọi thành viên trong thôn làng ở tất cả mọi cấp độ, mọi lứa tuổi.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><span style="line-height:115%;background:white;color:black">     Với việc duy trì tổ chức các lễ hội truyền thống, đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh nói chung và đồng bào Chăm nói riêng đã và đang góp phần duy trì, phát huy bản sắc của dân tộc, qua đó thúc đẩy sự phát triển văn hoá cộng đồng trong tiến trình xây dựng nền văn hoá Việt Nam cũng như văn hóa địa phương cụ thể là Đồng Nai tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.</span></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:right"><span style="font-size:large"><samp><tt><code><big><span style="font-family:Times New Roman"><b><span style="line-height:115%;background:white;color:black">Nguyễn Sen</span></b></span></big></code></tt></samp></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:large"><samp><tt><code> </code></tt></samp></span></div>
</div>
</div>
<p><span style="font-size:large"><samp><tt> </tt></samp></span></p>
</div>
<p> </p>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 03/11/2017 3:30 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 628</div>
]]></description>
      <author>ntsen</author>
      <pubDate>Fri, 03 Nov 2017 08:36:41 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=29</guid>
    </item>
    <item>
      <title>''Sắc thần'' vẫn được lưu giữ trong các ngôi đình ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=62</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass62160DF2ECCE4BBFA2C11A53DD0F91EA><div class=ExternalClassACC519FA483B4910B8B96EDDC56B4C87>
<div class=ExternalClassA09F09EE65BE4C5B97F9C250C86ABB49>
<div class=ExternalClassF4A5EDD00F954B5FB6512E682EDBFEB5>
<div class=ExternalClass2A5BBC09868D49F595C1D119DEFF6D0A>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman"><font size=5>Đồng Nai hiện có 118 ngôi đình, nằm rải rác ở 11 huyện, thị. Tại thành phố Biên Hòa, huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu cứ mỗi xã phường lại có một ngôi đình; sau giải phóng dự sự sát nhập giữa các làng cũ nên có trường hợp một xã có tới 11 ngôi đình tọa lạc (xã Hiệp Hòa của thành phố Biên Hòa), phường Bửu Long có 3 ngôi, xã Hiệp Phước của huyện Nhơn Trạch có 3 ngôi… các huyện còn lại là vùng đất mới nên mật độ các đình ít hơn.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman"><font size=5>Về hình thức, các sắc thần hiện đang lưu giữ tại Đồng Nai làm bằng chất liệu giấy màu vàng, in chìm hình rồng ấn trong mây, xung quanh có khung hoa văn, mặt sau có vẽ quyên thư, hoa lá. Sắc được viết bằng chữ Hán từ phải qua trái, từ trên xuống dưới, bút lực sắc xảo, triện đỏ hình vuông nằm bên góc trái dưới niên hiệu vua ban sắc.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman"><font size=5>Sắc thần là văn bản truyền mệnh lệnh của vua - người đứng đầu triều đại quân chủ - phong thần và xếp hạng cho các vị thần được thờ trong các đình, đền theo tín ngưỡng của làng xã người Việt. </font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman"><font size=5>Sắc thần là sự khẳng định tính hợp pháp được nhà nước phong kiến công nhận đối với thành hoàng mà người dân thờ phụng tại đình, vì thế rất thiêng liêng trong tâm tưởng của nhân dân.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><font size=5><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Đối tượng thờ chính ở đình là Thần Thành Hoàng. Hình thức thờ là viết chữ Thần (</font></span><span lang=EN-US style="font-family:'MS Mincho'">神)</span><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">bằng Hán tự vào khám thờ hoặc tường (rất ít thấy những ngôi đình ở Đồng Nai có thờ cốt tượng). Một số đình trước bàn hương án có thêm bài vị khắc mỹ tự của Thần Thành hoàng, trước bài vị là hộp đựng sắc phong của thần được phủ vải đỏ. Về đẳng trật thì Thành Hoàng còn gọi là Phúc Thần ở các đình thờ tại Đồng Nai tồn tại ở hai dạng là: Thượng đẳng thần là các bậc trung trinh ái quốc, sinh tiền có công với nước với dân, lúc mất đi được vua tinh biểu công trạng lập đền thờ, hoặc do dân chúng kính vọng tự động lập đền thờ như Nguyễn Hữu Cảnh, Trần Thượng Xuyên. Hiện nay, đền thở Nguyễn Hữu Cảnh là một trong số ít những di tích Biên Hòa còn lưu giữ được sắc thần, trong đó ghi rõ tên họ, chức tước vinh hiển, thứ bậc Thượng đẳng thần của vua ban phong cho ông. </font></span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">Các thần này đều có công trạng hiển hách và qua bao triều đại đã có mỹ tự phong làm Thượng đẳng thần. Còn Hạ đẳng thần là các vị thần được nhân dân thờ phụng đã lâu, có công bảo bọc che chở cho muôn dân, tuy không rõ họ tên cùng sự tích, nhưng cũng được liệt vào bậc chính thần, triều đình cũng thể theo lòng dân mà sắc phong là Thành Hoàng Bổn Cảnh, mỹ tự phong làm Chính Trực, Hữu Thiện, Đôn Ngưng.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">Sắc Thần ở Đồng Nai được phong vào các triều: Tự Đức (1848 – 1883) và Khải Định (1916 – 1925). Hiện nay số lượng sắc được bảo quản còn lại ở các đình không nhiều. Theo số liệu điền đã thống kê được 30 đạo sắc phong, gồm: 27 đạo sắc triều vua Tự Đức ngũ niên (1852) và 03 đạo sắc triều vua Khải Định nhị niên (1917). Số đình còn lại có sắc phong nhưng do hỏa hoạn, chiến tranh, trộm cắp nên đến nay đã không còn.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">          Hầu hết sắc thần được làm bằng loại giấy Kim tiên màu vàng, khổ giấy có chiều dài từ 1,2m đến 1,6m và chiều rộng khoảng 0,6m. Mặt giấy có in chìm hình rồng ẩn trong mây bằng dụ ngân, chung quanh có khung hoa văn hình học. Mỗi sắc Thần thường có từ 5 đến 11 hàng dọc chép bằng chữ Hán từ phải qua trái theo lối chân thư sắc nét. Dòng cuối cùng đề niên hiệu triều vua, ngày, tháng, cấp sắc phong. Ấn hình vuông của vua với son phụng màu đỏ đóng chồng lên hàng chữ đề niên hiệu, ngay trên đầu rồng in chìm bên dưới, giữa dòng chữ kể từ chữ niên trở xuống. Ấn hình vuông có bốn chữ viết theo lối triện là “Sắc Mệnh Chi Bảo”.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">          Mỗi triều đại vua phong một loại sắc riêng, mỗi loại sắc riêng ấy có kết cấu nội dung, hình thức về cơ bản giống nhau; có khác nhau là tên thôn, tổng, phủ, huyện, tỉnh, tên Thần, các mỹ tự, niên hiệu được gia tặng mà thôi.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">          Trước kia sắc Thần đựng trong hộp, thường để ở hương án thờ Thần tại đình, sau này do bị mất cắp nên chỉ còn một số Sắc để ở đình, số còn lại đem cất tại nhà của Chánh tế đương nhiệm. Thường thì hộp sắc này mỗi năm chỉ được mở một lần vào dịp Kỳ yên để khán sắc và phơi sắc dưới bóng râm chống ẩm rồi lại cất vào. Đối với mỗi người dân thì Sắc Thần có một ý nghĩa rất quan trọng, thiêng liêng; nên muốn khai sắc phải có sự bàn bạc, thống nhất của ban quý tế và được diễn ra trong lễ hội Kỳ yên dưới sự chứng kiến của mọi người. Có địa phương cứ 3 năm tuyên sắc một lần, sắc được đặt tại bàn Hội đồng, ông Trưởng lễ và kỳ lão mở ra xem; 12 vị cao niên khăn đóng áo dài đem sắc ra phơi ngoài bóng râm dưới sự hộ tống của hai người giỏi võ nghệ; phơi xong cuộn sắc lại bằng ba lớp giấy hồng đơn, bỏ vào trong ống sắt và đặt vào hộp sắc, quấn lớp vải đỏ bên ngoài; sau cùng an vị tại bàn thờ Thần.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">          Trong lễ hội cúng đình, ngoài những nghi thức vốn trở thành điển lệ ở mỗi đình như: Trình sanh, Túc yết, Đoàn cả, Tiền hiền hậu hiền, thì Thỉnh sắc là một trong những nghi thức quan trọng nhất; được thực hiện đầu tiên trong lễ cúng. Nghi thỉnh sắc được mở đầu bằng một hồi trống lệnh báo hiệu cho dân làng biết để đến đi thỉnh sắc. Khi mọi người tụ tập đông đủ, hiệu lệnh xuất phát là ba hồi chiêng, trống. Đi đầu đám rước là hai học trò lễ thỉnh nhang đèn, tiếp theo là chánh tế, phó tế đương nhiệm tay bưng khay rượu lễ, kế đó là trống lệnh, chiêng đi song song nhau. Long đình (ngôi đình thu nhỏ) được bốn học trò lễ khiêng đi tiếp theo; sau long đình là các chức sắc trong làng và nhân dân cùng tham gia. Khi đám rước đến nơi giữ sắc, thành viên trong ban tế tự thực hiện các nghi: Tựu vị (Hương chức vào chỗ cử hành lễ). Quán tẩy (rửa mặt, rửa tay). Thuế cân (lau mặt, lau tay). Phần hương (đốt hương). Cúc cung bái tứ bái (khom mình cung kính lạy bốn lạy). Hưng bình thân (đứng lên nghiêm minh). Chước tửu (châm rượu). Cúc cung bái nhị bái (khom mình cung kính lạy hai lạy). Hưng bình thân (đứng lên nghiêm mình). Chước tửu (châm rượu). Giai quỵ (tất cả đều quỳ). Chúc cáo từ (đọc lời chúc cáo). Cáo viết (cáo rằng). Tư trị đông thiên kỳ an lệ đáo, phụng nghinh Thần sắc (nay gặp buổi trời đông đáo lệ cũng lễ kỳ yên, phụng nghinh Sắc Thần). Cẩn cáo (kính cẩn cáo báo). Phủ phục (quỳ mọp xuống). Hưng bình thân (đứng lên nghiêm mình). Chước tửu (châm rượu). Cúc cung bái nhị bái (khom mình cung kính lạy hai lạy). Hưng bình thân (đứng lên nghiêm mình). Lễ tất (lễ xong). Sắc được thỉnh vào long đình, đi quanh xóm làng với tâm nguyện là Thần luôn thấu tỏ, nhỏ nhiệm mà hiển ứng, luôn hiện hữu trong từng ngõ ngách của xóm làng, người dân hễ cầu tất ứng, có cảm tất thông.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">          Sắc sau khi thỉnh về được an vị tại bàn thờ Thần tại đình trong suốt quá trình diễn ra lễ hội Kỳ yên (tổ chức một hoặc hai ngày tùy điều kiện mỗi đình); sau đó hồi sắc về chỗ cũ (thực hiện giống nghi thức thỉnh sắc).</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:center;line-height:normal;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman"><img alt="" width=695 height=303 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-4/di-tich-den-tho-nguyen-huu-canh1242018_142034.jpg"></font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">Thực trạng hiện nay nhiều đạo sắc phong bị xuống cấp do quá tôn trọng sắc mà Ban quý tế cũng như người dân không giám khai sắc, không hiểu về nội dung của từng đạo sắc, hoặc do lệ của từng địa phương mà ba năm mới tuyên sắc một lần; qua năm tháng thì mối mọt hủy hoại mục nát. Thực tế nhiều ngôi đình qua nhiều đời truyền lại hàng năm không có lệ khai sắc; hiện nay khi mở ra, sắc đã bị mối xông mất một nửa phần dưới hoặc mưa làm mục lỗ chỗ hay bị đạo tặc lấy mất. Các đạo sắc phong đều do nhân dân tự bảo quản một số để tại đình và có thủ từ (người giữ đình) trông coi, cũng có khi đem gửi ở nhà Chánh tế đương nhiệm, hoặc nhà người một kỳ lão trong làng. Đạo sắc phong thuộc sở hữu của mỗi đình, của người dân, do người dân tự giác bảo quản bằng những lệ, những quy định riêng của mỗi làng. Trong tình hình hiện nay, việc bảo tồn loại hình sắc phong chủ yếu dựa vào ý thức của người dân là chính. Các cơ quan quản lý về văn hóa cũng chỉ giúp người dân phương pháp bảo quản, phiên âm, dịch nghĩa nội dung hàm chứa trong từng đạo sắc phong; hiểu được giá trị văn hóa, lịch sử, chứ không thể thay người dân lưu giữ hoặc sưu tầm đem về bảo quản được.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">Ngoài những giá trị to lớn về mặt lịch sử, văn hóa; các đạo sắc phong còn có ý nghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu về thư tịch học, văn bản học, ngôn ngữ học, cách in ấn thủ công, pha chế mực…; nó vừa mang yếu tố tâm linh vừa hiện hữu giữa cuộc sống thường nhật. Với chức năng, vai trò của mình các đạo sắc phong đang góp phần khôi phục, duy trì theo nếp xưa, làm phong phú thêm hoạt động lễ hội dân gian tại các ngôi đình trên mảnh đất Đồng Nai.</font></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:right;line-height:normal;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span lang=EN-US><font size=5><font face="Times New Roman">_Thanh Vân_</font></font></span></i></b></span></p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
</div>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 12/04/2018 2:15 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.953</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Thu, 12 Apr 2018 07:19:02 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=62</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Quan niệm dân gian về vũ trụ của người Mường</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=52</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass17448E2B3F994E16937BB1BB412D7B6B><div class=ExternalClass7EA4A2B20F0241859FC0FA95AE4A5E40>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Mường di cư vào Nam từ sau năm 1954 và một số ít đã định cư tại Đồng Nai nhưng tập trung nhiều ở huyện Định Quán. Khởi nguồn từ xa xưa, Người Mường đã theo thói quen cư trú chủ yếu ở các vùng thung lũng, ven các con sông con suối hay những dải đồi thấp ven núi ở phía Bắc Việt Nam, vì vậy từ xưa tới nay, cư dân Mường sống bằng nghề nông nghiệp, trồng lúa và kết hợp làm nương rẫy. Bản làng được tập trung ở chân núi với hướng nhà nhìn ra cánh đồng hay dòng suối. Đối diện cuộc sống nơi núi cao hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, họ càng cần nhiều hơn niềm tin tâm linh, làm chỗ dựa để vượt qua những khó khăn. Chính vì điều kiện cư trú như vậy, nên nền văn hóa Mường mang đậm nét bản địa, bó gọn lại trong các Mường và lưu truyền nó qua cuộc sống hàng ngày trong từng nếp ăn, nếp nghĩ cũng từ đó mà hình thành một nền văn hóa hết sức giản dị, mộc mạc mà độc đáo trong đó thể hiện rõ nhất quan niệm dân gian về vũ trụ của người Mường.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span style="font-size:14pt">Sử thi của người Mường</span></i><span style="font-size:14pt">: Khi nói đến di sản văn hóa truyền thống của người Mường thì ngoài cồng chiên không thể không kể đến diễn xướng dân gian, trong đó có Mo, Trượng, Mỡi. Nằm trong hệ thống phong tục, nghi lễ của dân tộc Mường, ngoài ông Mo còn có ông Trượng và bà Mỡi (hay ông Mỡi), những người này có địa vị tôn quý thực hiện việc diễn xướng sử thi trong các nghi lễ. Tuy trong cách sử dụng và lưu truyền có khác nhau về hình thức, nhưng cơ bản có sự tương đồng về mục đích và ý nghĩa, theo đó ta có thể hiểu Mo là một loại hình diễn xướng sử thi của dân tộc Mường. Người Mường lưu giữ các thần thoại, huyền tích và trường ca “Đẻ đất đẻ nước” chủ yếu bằng con đường truyền miệng và diễn xướng sử thi thường diễn ra trong các nghi lễ của đồng bào. Đó là tín ngưỡng bắt nguồn từ mong ước đời sống yên bình, làm ăn phát triển trong sản xuất nông nghiệp nên thường vào các ngày lễ hội đình trong lời khấn vái của mình, các ông Mo, Trượng đã thay mặt nhân dân Mường nói lên ý muốn của họ với các thần linh để mong họ phù hộ.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Theo sử thi thần thoại <b><i>Đẻ đất đẻ nước</i></b> thì từ thời xa xưa đất, nước còn liền nhau, bỗng một hôm gió cuốn đất cát, làm cho trời đất tách thành ông Trời, bà Đất. Lúc đó các loài sinh vật rất khó tồn tại, duy chỉ có một loại cây dẻo dai nhất đã mọc, đó là cây Si – cây vũ trụ đầu tiên, là biểu tượng linh hồn đất, nước, con người trong không gian bé nhỏ của người khai thiên lập địa xa xưa ấy. Cây cổ thụ khai sinh muôn loài, các cây si con cũng mọc làm biểu tượng cho các lớp thế hệ về sau, do đó người Mường dần sinh sôi phát triển thành cộng đồng dân tộc Mường. <span style="background:white">Mộc mạc và giản dị nhưng nền văn hóa đặc sắc của người Mường cùng trường ca “Đẻ đất đẻ nước” đã được truyền lại qua bao thế hệ, để ngày nay mang trong mình một sức sống mạnh mẽ, lâu bền, những thế hệ đồng bào Mường cùng nhau xây dựng bản làng, phát triển đời sống văn hóa tinh thần, cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc. Trường ca “Đẻ đất đẻ nước” là bản hùng ca huyền thoại của người Mường đã thể hiện sức mạnh hào hùng, anh dũng của dân tộc Mường qua bao thời đại.</span></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span style="font-size:14pt">Quan niệm về không gian – vũ trụ</span></i><span style="font-size:14pt">: người Mường quan niệm vũ trụ có ba tầng và năm thế giới đó là: vũ trụ gồm có địa phủ nơi con người sinh sống, Thiên phủ là không gian bao la bát ngát, Thủy phủ là trong lòng đất và đáy sông nước; năm thế giới gồm: Mường người, Mường Trời, Mường Ma, Mường âm Phủ và Mường địa phủ. Đây còn là quan niệm về chín tầng đất, mười hai tầng trời, bởi tầm nhìn của con người vào trong không gian thì xa tít tắp và sâu thẳm. Với quan niệm rộng rãi như vậy, con người lại là trung tâm nên từ xa xưa con người phải lao động, đấu tranh không ngớt với các thế lực siêu nhiên để tồn tại và phát triển, từ đó đề ra các tục lệ, việc cúng lễ, thờ phụng.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span style="font-size:14pt">Quan niệm về cõi sống:</span></i><span style="font-size:14pt"> Theo quan niệm của người Mường, từ phần tinh thần và phần thể xác đẻ ra vía khi người sống, khi chết là hồn (ma) cho nên cuộc sống muốn được khỏe mạnh, mát lành thì phải làm cho tinh thần ổn định. Người Mường quan niệm “Người làm ăn ở phía nhà, ma làm ăn ở phía đống” vì thế mà có tục lệ cúng vía.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Quan niệm này còn được thể hiện ước mơ qua lời chúc tết hàng năm của con cái đối với ông bà, cha mẹ rất da diết và đầy ý nghĩa. Trong cõi sống, tùy theo từng lứa tuổi mà cúng lễ, yếm trừ, thuốc thang cho các vía theo từng loại, ngoài ra không được quên ơn đối với người đã khuất, nhất là những bậc có công với đất nước, với quê hương, công sinh thành nuôi dưỡng. Nói chung, người Mường cho rằng trong cõi sống con người phải thấu nghĩa thấu tình, có trên có dưới, có trước có sau, có âm – dương, sống phải có đạo đức tạo thành một mối tổng hòa để cõi sống được “sống xa già lâu”.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><i><span style="font-size:14pt">Quan niệm về cõi chết:</span></i><span style="font-size:14pt"> người Mường quan niệm chết là do hết số hay cây Si linh hồn bị héo úa, chết lá gãy cành bị gió thổi đổ cây trơ rễ mà chết, bởi thế họ chữa điềm gở, chuộc số, kéo Si,… để bảo vệ cuộc sống. Nếu không sống được thì khi chết cũng phải được thanh thản, không bệnh tật, không bị thần ác làm hại.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Hàng năm con cháu phải lễ lạt tháng ba, tảo mộ cuối năm để tu sửa mồ mả cho khỏi xối nước quá, trâu bò giẫm đạp,… làm khó khăn cho linh hồn. Mặt khác, để tỏ lòng đền ơn công đức sinh thành, nuôi dưỡng, đến ngày lễ ngày tết đều phải thỉnh mời hồn về ăn trước, uống trước xin phù hộ độ trì che chở cho người sống. Đồng thời, có thiếu thốn gì cũng được con cháu cung cấp như vải vóc, quần áo, tiền bạc, ma khỏi đòi hỏi quấy nhiễu.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đó là đối với những hồn là người bình dân, riêng những người có chức tước trong xã hội thì ở cõi chết cũng có địa vị cao không những với đất đống (được cung cấp đất đai, ruộng vườn sinh hoạt khi chết) mà còn được thờ tự ở làng, ở mường hay cả dân tộc, đất nước. Hàng năm các ngày lễ khai hạ, xuống đồng, rửa lá lúa lá mạ đều có thờ lễ tập trung ở đình, ở miếu. Cuộc lễ đó không chỉ nhớ ơn những vị có công với dân làng, đất nước mà còn mong được mùa màng tươi tốt, cuộc sống bình yên. Các gia đình mỗi khi có cưới xin, nhà mới cho đến các việc ma chay đều có cỗ riêng, thỉnh mời họ về ăn uống và chứng kiến để giúp ngăn cản ma ác không thể làm hại được người sống. Vì thế, họ không chỉ được gọi là quan làng đất nước mà còn dành cho họ một cái tên đầy trìu mến, cao thượng: Bố Đất, Mẹ Mường.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Với các nhân vật tiêu biểu như Quốc Mẫu Hoàng Bà, Vua Cả (Thánh Tản)… có công lớn trong việc làm kinh tế nông nghiệp, đánh giặc giữ nước. Họ lập đình mở hội tế lễ hàng năm để ghi nhớ công ơn, mong giúp đỡ và cầu được mùa, cầu mưa thuận gió hòa, cầu yên dân, buôn làng ấm no, hạnh phúc.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Từ các quan niệm về không gian vũ trụ, thế giới quan, nhân sinh quan với cái nhìn đa sắc màu, đã tạo ra đời sống văn hóa của người Mường giàu bản sắc, đời sống tâm linh phong phú, tốt đẹp. Các phong tục truyền thống này đã bắt rễ lâu đời, ăn sâu vào tâm khảm của người dân, là chất liệu góp phần xây dựng nên <span style="background:white">nét đẹp mộc mạc và giản dị </span>của dân tộc Mường, <span style="background:white">những con người Mường đã làm phong phú thêm vẻ đẹp dân tộc Việt, đã góp phần tạo một nền truyền thống văn hóa đa dạng cho đất nước Việt Nam.</span></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><u><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Tài liệu tham khảo:</font></span></u></i></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">1. Diễn xướng nghi lễ - Di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc Mường. - Nxb. Văn hóa dân tộc, 2015.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">2. Người Mường ở Việt Nam. – Nxb. Thông tấn, 2008</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">3. Địa chí Đồng Nai, tập 5: Văn hóa – xã hội. – Nxb. Đồng Nai, 2001</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"> </font></span></b></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Như Quỳnh</font></span></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/03/2018 8:40 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 691</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Wed, 07 Mar 2018 01:41:05 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=52</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Trang phục của người Cơ Tu</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=6</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass5B0435B20FF1411DB423F8FE59639B33><div class=ExternalClassFB86793700E045018EFB73062ACC6AD4>
<div class=ExternalClass2604B82F45EA41B49CA4D3A2CA1B8501>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:small"><em><strong>Dung Nguyễn</strong></em></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span lang=FR style="line-height:115%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">      </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span lang=FR style="line-height:115%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">      Trên tỉnh Đồng Nai, người Cơ Tu tuy chỉ có 16 người tính theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê về điều tra dân số và nhà ở Việt nam năm 1999. Nhưng tộc người này vẫn khẳng định được vị trí rất riêng của mình trong sinh hoạt cộng đồng nhờ nét văn hóa rất phong phú và đặc trưng.Trong đó phải nói đến trang phục truyền thống khá đặc biệt của họ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span lang=FR style="line-height:115%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">      Từ thời xa xưa người Cơ Tu có tục để ngực trần ở cả nữ giới lẫn nam giới. Phần thân dưới lúc đó được che đậy bằng vỏ cây tái chế. Dần dần theo đà phát triển cũa xã hội người Cơ Tu đã sử dụng áo, váy để che đi phần thân trên của mình, nhưng còn một số người vẫn giữ tục ‘bán lõa’ trong trang phục của họ. Ban đầu trang phục của người Cơ Tu khá là đơn giản trong màu sắc và kiểu dáng: chủ yếu là những tấm thổ cẩm trơn có họa tiết giản đơn với gam màu chủ đạo là trắng và đen. Theo quá trình hội nhập với sự phát triển của thời đại, người phụ nữ Cơ Tu đã thổi vào những bộ trang phục dân tộc với nhiều hoa văn tinh xảo và bắt mắt hơn nhờ đôi bàn tay khéo léo qua những gì họ thấy được trong cuộc sống. Hoa văn trên y phục của người Cơ tu thường là hình lá atút, chiếc dây phơi, hình ảnh ngọn chông, đám mây, điệu múa tung tung ya ya… Trang phục truyền thống của người Cơ Tu phân chia rõ ràng về giới tính và mục đích sử dụng mà ít có sự phân biệt giàu nghèo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span lang=FR style="line-height:115%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">      Đối với nữ giới thì y phục của họ có áo, váy, yếm, dây thắt váy, dây buộc đầu. Áo của phụ nữ Cơ Tu được làm một cách rất đơn giản, họ chỉ cần gập đôi tấm vải lại, may viền hai bên và khoét cổ ở giữa, rồi khoét sâu xuống nách và không để ống tay. Phụ nữ đã lớn tuổi và có chồng thì mặc cổ áo có hình chữ V. Loại áo mặc bình thường ở nhà hay đi làm thì không có hạt cườm và hoa văn. Hôm nào có lễ hội người phụ nữ sẽ mặc loại áo có đính cườm với nhiều loại hoa văn theo nguyên tắc đối xứng nổi bật bằng chỉ màu, loại áo này rất đắt tiền, có cái có giá trị bằng cả một con trâu. Phụ nữ đã có chồng, lớn tuổi đi lễ hội sẽ mặc loại áo có gắn thêm tay phụ màu trắng. Váy thì người phụ nữ Cơ Tu có váy quấn còn được gọi là váy tấm, khi mặc sẽ quấn quanh trục thân theo chiều dài tấm vải. Nữ giới có nhiều kiểu váy dựa vào chiều dài của nó so với người mặc, có kiểu váy ngắn mép chỉ đến đầu gối, kiểu dài hơn thì che được tù ngực xuống cổ chân nên không cần mặc áo, và một loại váy ống thường mặc hàng ngày. Yếm của người phụ nữ Cơ Tu rất đặc biệt, nó chỉ là miếng vải thổ cẩm có chiều ngang khoảng 30cm vừa đủ che phần ngực của người phụ nữ. Nghĩa là nó ngắn hơn rất nhiều so với áo yếm của các dân tộc khác. Thế nhưng dây buộc đầu của phụ nữ Cơ Tu lại ngược lại, nó lại có độ dài kỷ lục nếu so với dây buộc đầu của các dân tộc bạn. Một phụ kiện không thể thiếu trên y phục của phụ nữ Cơ Tu đó là dây thắt váy. Nó có công dụng giữ cho váy khỏi tuột, và có tính thẩm mỹ rất cao. Dây được dệt bằng các sợi vải, dài 1-2m, rộng tầm 5cm, có các sợi tua dài nhiều màu ở hai đầu, được dệt cùng các loại văn hoa khá công phu và tỉ<span>  </span>mỉ, thể hiện được sự khéo léo, giỏi giang của những người phụ nữ Cơ Tu. Điều đó làm tôn nên nét duyên dáng, riêng biệt cho các cô gái của dân tộc này.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span lang=FR style="line-height:115%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">      Trang phục của nam giới thì có phần đơn giản hơn. Họ có áo ngắn may kiểu chui đầu, không viền cổ, áo thường màu chàm hoặc có trang trí thêm hoa văn. Loại áo này được sử dụng trong những ngày bình thường. Đàn ông ở đây có một kiểu áo rất đặc biệt là áo chữ X, với chiều dài có lúc lên tới 8m có thể vừa làm khố vừa làm áo luôn, cộng với nhiều hoa văn và hạt cườm nên nó rất nặng so với những chiếc áo bình thường của các dân tộc khác. Vào những ngày trời lạnh và lễ hội, nam nữ người Cơ Tu còn có thêm tấm choàng. Tấm choàng được trang trí hoa văn có màu chàm đậm, người ta choàng lên người chéo từ nách bên này sang nách bên kia hoặc là choàng lên vai thân phủ đến chân. Thứ không thể thiếu của nam giới đó là khố. Khi trời nóng họ chỉ mặc khố, và cũng là để dễ dàng thuận tiện trong lao động làm rẫy và săn bắn. Đàn ông có khố ngắn đến đầu gối, còn ngày lễ thì mặc khố dài đến mắt cá chân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span lang=FR style="line-height:115%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">      Trẻ em ở đây cũng rất được quan tâm về ăn mặc. Theo tập tục thì các em có trang phục giống của người lớn với hình thức thu nhỏ. Nó thể hiện sự chăm lo của người mẹ người chị đối với con em của mình.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span lang=FR style="line-height:115%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">      Dù có một số chi tiết gần giống với các dân tộc khác trong kiểu dáng trang phục truyền thống. Nhưng bằng tất cả sự cần mẫn, khéo léo, khả năng thẩm mỹ cộng với tình cảm của mình người phụ nữ Cơ Tu đã tạo ra dấu ấn riêng biệt trong trang phục của dân tộc họ. Đó là nét tinh hoa văn hóa dân tộc mà con người chúng ta cần phải gìn giữ và phát triển.</span></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 13/10/2017 9:45 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 260</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Fri, 13 Oct 2017 02:53:36 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=6</guid>
    </item>
    <item>
      <title>TÍN NGƯỠNG THỜ CỌP Ở BIÊN HÒA – ĐỒNG NAI</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=55</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassD44086C4ED4D490A9750B09A85404C23><div class=ExternalClassAB02A214F83F436793C0CD974E82BCE1>
<p><span style="font-family:'Times New Roman'"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"> </p>
<span style="font-family:'Times New Roman'">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><b style=""><span style="font-size:14pt">Tục thờ cọp:</span></b></p>
</span>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Tục thờ cọp ở các đình, chùa ở Đồng Nai nói riêng và Nam bộ nói chung có lịch sử lâu đời. Bên cạnh nguồn gốc sâu xa là thờ thần Hổ như một trong các vị thần nông nghiệp, gọi là “tế lạp” hay “chạp miễu”, tục thờ cọp còn mang ý nghĩa khác. Từ thời khai hoang lập ấp, khi vùng đất mới toàn là nơi rừng hoang với sự ngự trị của các loài dã thú, cọp vừa là mối đe dọa trực tiếp tới cuộc sống của con người nhưng cũng là một thế lực thiêng liêng, đại diện cho thần rừng, thần đất. Người dân một mặt phải chống trả trước sự tấn công của cọp, một mặt lại cảm thấy phải kiêng dè, tôn kính vị chúa Sơn lâm. Vì vậy, mặc dầu có nhiều người rủi vận phải làm mồi cho cọp, và để tồn tại, đôi khi người ta phải giết cọp nhưng với tâm thức kính sợ những thế lực huyền bí, con người lại phải lập miễu thờ cọp một cách tôn kính để mong chúng không quay trở lại trả thù hay làm hại tới cuộc sống của cộng đồng. Khi gọi tên cọp, không dám gọi đích danh mà phải dùng những danh xưng tôn quý như Ngài, Ông, Thần, Hương cả,…</span><span style="font-size:0pt;color:black;border:1pt none black;padding:0cm;background:black"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Vừa đại diện cho những mối đe dọa từ thiên nhiên, mặt khác cọp lại được xem là một vị thần, phò hộ cho hương thôn trước thiên tại, địch họa. Vì thế, thần Hổ được xem như thần bảo hộ cho khuôn viên đình, chùa. Hầu hết các ngôi đình ở Đồng Nai đều có miếu hay bàn thờ thờ Cọp với các tên gọi như Hổ thần, Mãnh hổ Sơn quân, Bạch Hổ, Chúa Sơn Lâm… Trước các đình thường có những bức bình phong được chạm trổ, đắp phù điêu, vẽ thể hiện hình tượng của vị chúa tể rừng xanh này trông dáng vẻ uy nghi, oai dũng. Đây là một trong những tín ngưỡng dân gian của những người di dân từ thuở trước còn lưu lại. Biên Hòa – Đồng Nai thời khai khẩn là vùng đất lắm thú dữ; đặc biệt nhiều cọp: <i style="">“Đồng Nai xứ sở lạ lùng. Dưới sông sấu lội trên giồng cọp um”</i> đã đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, quá trình khẩn hoang của những người di dân. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Vì vậy, tâm lý sợ hãi về mối nguy hiểm này đã khiến cho họ thờ Cọp, tôn Cọp lên chức Ông Cả của làng xóm để mưu cầu một cuộc sống bình yên. Hằng năm, tại đình khi diễn ra lễ cúng tế, tại bàn thơ Hổ thường được cúng bằng thịt heo. Có những nơi, người ta tin rằng, vào ban đêm, thần Hổ sẽ về hưởng và đem một tờ sờ khác cho làng xóm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Tại một số đình, còn có tục thờ “Thanh Long và Bạch Hổ”. Đây là một quan  niệm về thuật phong thủy. Xem như thế đất của đình là mạch quý, bên tả có Thanh Long bảo vệ, hữu có Bạch Hổ trấn giữ nên không có gì xâm phạm được. Hoặc bức bình phong có hình Sơn Quân có thể hiểu là một dạng yếm bùa các thế lực tà ma không được đến khu trung tâm khi đã có vị chúa tể này canh gác.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"> </p>
<span style="font-family:'Times New Roman'">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><b style=""><span style="font-size:14pt">Chuyện đánh Cọp</span></b></p>
</span>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Những câu chuyện về cọp được thờ ở đình được truyền kể cho nhau với những nét thêm thắt, huyền hoặc linh thiêng bao trùm tạo nên sự thần bí và nể phục của nhiều người qua tục thờ cọp còn duy trì cho đến ngày nay.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Không chỉ sợ Cọp, thờ Cọp mà những người di dân thời xưa muốn tồn tại, sống yên ổn đã phải đương đầu với mối đe dọa trực tiếp từ loài thú dữ này. Họ thờ Cọp nhưng trong thực tế, nhiều nơi nhiều lúc Cọp đã không để con người yên thân. Vì vậy, mà bao người đã đánh nhau với Cọp để bảo vệ bản thân, cộng đồng.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Chuyện đánh Cọp được truyền miệng nhau kể. Rất nhiều người đã đánh nhau với Cọp ở nhiều nơi trên Đồng Nai. Ở Phú Hội còn lưu truyền chuyện Ông Sắc dòng họ ông Tổng Hiển giỏi võ đã đánh nhau với Cọp lúc nó chặn đường, bắt trâu khi ông đi lên rừng lấy củi. Trong một lần đánh nhau, ông bị Cọp chụp trúng vào bả vai gây nhiễm độc dẫn đến tử vong.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Tương truyền ở Biên Hòa – Đồng Nai xưa thường có những con cọp rất dữ tợn. Chúng khôn lanh trong rình người bắt mồi và trốn tránh sự đi săn của con người. Những con cọp dữ thường được gọi là cọp ba móng. Đó là những con cọp bị thương tật hay bị bẫy mà chân mất đi một ngón. Không thể lý giải được vị sao những con cọp chân có 3 móng thường rất dữ tợn, tinh ranh.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Ở Biên Hòa – Đồng Nai là địa bàn mà nhiều người Tây phương lắm của nhiều tiền hay tổ chức đi săn cọp. Một câu chuyện kể về việc người Tây săn cọp rất ly kỳ. Ở miệt Bà Kí, có một con cọp ba móng cực kỳ hung dữ. Cọp đã một lần bị sập bẫy nhưng thoát được, mất một ngón chân. Hoàng tử Henri d’Orleans (cháu vua Henri IV ở Pháp) là người từng đi săn nhiều năm ở Ấn Độ nên rất tự tin sẽ hạ được con cọp ba móng này cách dễ dàng. Ông cùng thuộc hạ săn đến khu Bà Kí để lùng dấu cọp. Ngày rình, tối ngủ tại các láng trại dã chiến trong rừng nhằm mục đích nhử cho cọp xuất hiện. Nhưng nhiều tuần trôi qua, bóng con cọp dữ chẳng thấy đâu. Thế rồi vào một đêm kia, căn lều của đoàn tùy tùng hoàng tử bị cọp ba móng tấn công, giết chết 4 người. Ông tổ chức truy lùng nhưng cũng không tìm thấy cọp. Sau đó, ông tổ chức thêm một lần nữa nhưng cũng thất bại nên đành bỏ cuộc săn.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Đ, nổi lên một con Cọp hung dữ táo tợn. Đó là “Cọp ba móng”, một thời làm kinh động cả vùng rừng núi bạt ngàn ngày. Ai đã từng ở chiến khu Đ chắc hẳn đã nghe tiếng đến sự tinh khôn trong việc bắt người ăn thịt của chúng. Sự tác oai tác oái của nó đã làm thiệt hại nhiều sinh mạng và là nỗi ám ảnh của bao người đang sống thời bấy giờ. Người ta cho rằng vì ăn thịt nhiều người nên con thú này trở thành tinh, biết lẩn tránh khi bị săn đuổi và bắt người như có phép thần thông. Để giết con Cọp dữ này, một đội săn đã được thành lập. Sau nhiều lần truy đuổi và tiêu diệt, đôi săn Cọp đã khử được con Cọp này bằng cách gài mìn đặc biệt cạnh một xác người đã từng bị nó vồ. Nó bị chết khi trở lại ăn mồi. Khi mổ bụng nó ra, còn có những móng chân, tay của người bị hại.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"> </p>
<span style="font-family:'Times New Roman'">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-size:14pt"> </span><b style=""><span style="font-size:14pt">Chuyện cảm hóa Cọp và Cọp giúp người</span></b></p>
</span>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Ngoài thờ Cọp, đánh Cọp và còn cả chuyện lấy đức y mà chuyển hóa cọp dữ thành lành cũng là một mô típ dân gian mang nhiều nét hoang đường được phổ biến ở Đồng Nai. Tương truyền, ở khu đá Ba Chồng Định Quán có hai con cọp trắng rất dữ tợn. Thế nhưng, khi nghe tiếng chuông chùa và lời niệm kinh Phật tại ngôi chùa Thiện Chơn, chúng được cảm hóa, trở nên hiền lành. Đôi bạch hổ này trú ở hang đá cho đến ngày nay còn dấu tích và người dân gọi là hang Bạch Hổ. Sau này, do chiến tranh, cặp hổ này bỏ đi nơi khác.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Câu chuyện Bà mụ đỡ đẻ cho Cọp được truyền miệng ở nhiều nơi. Tại An Hòa, Long Thành ngày nay có một miếu thờ với tên gọi: Miếu Bà Mụ. Tương truyền, với nghề đỡ đẻ tài ba của mình, một chúa sơn lâm biết tiếng đến rước bà về đỡ đẻ cho vợ của mình khi gặp nạn khó sinh trong một đêm mưa gió bão bùng. Xong việc, hàng tuần trước nhà bà Mụ đều có heo rừng, hươu nai do cọp đem biếu để tỏ lòng biết ơn. Khi nghe tin bà chết, cọp còn đến tế mộ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Ở vùng Vũng Gấm, có chuyện kể vào những năm đầu thế kỷ 20, có nhà sư gặp một con cọp trước cửa chùa. Tuổi già sức yếu nên nhà sư không kháng cự cũng không bỏ chạy mà chỉ chắp tay, nhắm mắt đứng yên. Một hồi lâu, khi ông mở mắt ra thì con cọp đã bỏ đi. Chỗ của nó khi nãy có một đứa trẻ mới sinh. Sau khi cứu đứa bé vào chùa, nhà sư kêu gọi đệ tử theo dấu vết của con cọp. Khi đi vào rừng, bên cạnh môt con suối, đoàn người thấy một phụ nữ đang nằm ngất tại đó. Người phụ nữ kể rằng, chị ở chòi phía bên kia suối cùng chồng đốt than đổi gạo. Đêm đó, chị chuyển dạ sinh nhưng không có chồng ở nhà, chị liều lĩnh qua suối với hy vọng đến được xóm nhà dân để cậy nhờ. Tới suối, chị thấy một con hổ to xuất hiện và chị hoảng sợ ngất đi. Đứa con được sinh ra trong lúc đó. Nhà sư nói cho chị biết, chính con cọp đó đã tha đứa bé về dể trước cửa chùa để cầu sự giúp đỡ. Người phụ nữ vui mừng đến gặp con. Nhà sư cho rằng đây là con cọp ba móng hung dữ trước đây ở miệt Bà Kí. Có lẽ nó biết hối hận về những tội ác trước đó nên mới chuộc lỗi đối với con người. Hành động cứu người phụ nữ và đứa bé là một việc làm những năm tháng trong tuổi già  nua của nó. Vài tháng sau, người ta thấy xác con cọp có ba móng này chết yên lành trong hang đá.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Vùng Bửu Long tương truyền về sự tích của hàm Rồng, hàm Hổ. Tích xưa cho rằng, vùng Bửu Long thời xưa hoang vu. Một nhà sư đến đây lập chùa, dân làng sinh sống an lành. Một hôm, có con cọp trắng xuất hiện. Ban đầu dân làng lo sợ nhưng cọp chẳng hại ai. Cọp còn giúp đỡ những người lên núi thăm chùa. Trên núi Bửu Long, có hai tảng đá nằm chồng lên nhau, hình vòng cung. Từ xa nhìn thấy như dáng cọp đang há miệng, bên dưới có tảng đá bằng phẳng. Cọp thường về đây nằm nên dân gọi là Hổ đầu thạch (Hổ: cọp). Từ khi có cọp trắng, không có thú dữ nào dám về phá núi và dân làng. Người dân quý mến cọp trắng và cử cọp làm Hương cả trong làng bằng một tờ giấy để sẵn trong hàng. Hằng năm, khi đến lễ cúng tại đình làng, dân làng đem cúng tại đá Hàm Hổ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Mặc dù với nhiều chi tiết hoang đường, phóng đại và siêu nhiên thần bí, nhưng với những chuyện kể này toát lên ý nghĩa của việc lấy tài năng, đức y mà cảm hóa loài ác thú của những con người một thuở đi khai khẩn ruộng đất. Những chuyện kể về Cọp rất đa dạng và mang nhiều sắc thái khác nhau. Nó bổ sung cho kho tàng chuyện kể văn hóa dân gian Đồng Nai thêm phong phú. Và trên hết, qua đó những chuyện kể này cũng cho chúng ta những nhận thức được về buổi đầu lịch sử của việc khai khẩn đất Đồng Nai trước đây. Đó là sức sống mãnh liệt của các lớp người đi trước; những phong tục, tập quán của họ trên vùng đất mới. Những điều tưởng chừng như đơn giản, bình thường ấy lại là một cuộc đấu tranh hào hùng chống lại với thế lực thiên nhiên, góp phần cho việc tạo dựng cuộc sống hôm nay từ những bước đi đầu tiên mở cõi. Cái cốt nhân nghĩa, thiện lành trong chuyện về cọp cũng gợi lên bao điều mà con người phải suy nghĩ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.0pt"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt">Dấu ấn về cọp trong cộng đồng thể hiện qua những giai thoại dân gian về những người xấu số bị cọp vồ, những người anh hùng ra tay đánh cọp hay những con cọp già hiền lành về ở ẩn nơi xóm làng và khi chết đi được dân chúng phụng thờ. Qua đó có thể thấy được những khó khăn gian khổ của người dân đi mở cõi phải sống trong cảnh <i style="">“Dưới sông sấu bắt, trên rừng cọp tha”</i>. Nhưng những thách thức ấy cũng không thể làm chùng bước con người. Cọp dù dữ cũng phải chào thua trước mưu trí và sức mạnh của con người, để rồi từ mối đe doạn khủng khiếp, cọp lại trở thành vị thần bảo vệ xóm thôn, phò hộ cho dân làng được bình yên khỏe mạnh. Điều đó đã chứng tỏ sức mạnh của con người đã chinh phục được thiên nhiên và hành động cọp hiền lành về xóm thôn chết rũ đã nói lên phần nào sự nhân nhượng của thiên nhiên đối với người chủ mới.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:right"><span style="font-family:'Times New Roman'"><span style="font-size:14pt"> </span></span><span style="font-family:'Times New Roman'"><b style=""><i style=""><span style="font-size:14pt">                                                                                   _</span></i></b><b style="text-indent:36pt"><i><span style="font-size:14pt">Thanh Vân_</span></i></b></span></p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/03/2018 9:45 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 592</div>
]]></description>
      <author>vxle</author>
      <pubDate>Mon, 19 Mar 2018 02:50:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=55</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nghệ thuật tạo hình, trang trí của dân tộc Chơ ro ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=59</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE082920E43534209BA6039E6150DDA00><div class=ExternalClass8A03DA511A5D4C128809367A921BDFD9>
<p> </p>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Đồng bào Chơ ro là một trong những dân tộc cư trú đầu tiên tại vùng đất Đồng Nai. Qua nhiều biến động của lịch sử, người Chơ ro phải di cư đi nhiều nơi trong rừng sâu. Đến ngày nay, được sự quan tâm của Đảng, nhà nước và chính quyền địa phương, người Chơ ro cùng nhiều dân tộc anh em khác đã chuyển sang lối sống định cư, có điều kiện vật chất và tinh thần tốt hơn rất nhiều. </span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Hiện nay, toàn tỉnh Đồng Nai có 3.467 hộ người Chơ ro sinh sống, với nhân khẩu là 17.054 người (số liệu Ban Dân tộc tỉnh, tháng 6/2009). Người Chơ ro tập trung chủ yếu ở các huyện, thị: Long Khánh (xã Xuân Vinh, xã Xuân Bình, xã Bàu Trâm, xã Hàng Gòn) ; huyện Xuân Lộc (xã Xuân Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ); huyện Định Quán (xã Túc Trưng); huyện Vĩnh Cửu (xã Phú Lý); huyện Long Thành (xã Phước Bình); huyện Thống Nhất (xã Xuân Lộc, xã Xuân Thiện). Riêng ở thành phố Biên Hòa, hiện nay có một số ít người Chơ ro đến sinh sống, chủ yếu là thanh niên trong độ tuổi đi học hoặc làm công nhân tại các khu công nghiệp.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Từ xa xưa, người Chơ ro đã rất khéo léo trong nghệ thuật tạo hình, trang trí cho các đồ dùng và vật dụng trong gia đình như nhà ở, bàn thờ Yang, cây Nêu trong lễ cúng thần lúa, các đồ dùng sinh hoạt: gùi, thổ cẩm,..</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><b><i>Nghệ thuật tạo hình, trang trí cho kiến trúc nhà ở của đồng bào Chơ ro</i></b>: Nhà ở của người Chơ ro hiện nay khá đa dạng bởi nhiều loại kiểu nhà với cấu kết kiến trúc khác nhau. Do điều kiện lịch sử và những biến động xã hội, nhà ở hiện nay của người Chơ ro ảnh hưởng nhiều bởi lối kiến trúc của người Kinh trong quá trình chung sống. Qua một số ảnh còn lưu giữ chụp đầu thế kỷ XX, cho thấy, nhà ở truyền thống của người Chơ ro là nhà sàn.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Hiện nay, ngôi nhà của già làng người Chơ ro ở ấp Lý Lịch, xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai được dựng sau năm 1975 được xem là “mẫu hình” nhà sàn truyền thống của người Chơ ro. Mặc dù, nhà sàn này có sử dụng một số nguyên vật liệu hiện đại như ngói lợp. Nhưng nhìn chung, cấu kết kiến trúc nhà sàn này được làm bằng gỗ. Bình diện của nhà sàn theo lối hình chữ nhật. Khác với nhà sàn của người Mạ vói vách đứng thì nhà sàn của người Chơ ro có vách hơi vát nghiêng tạo nên một không gian rộng hơn trong phạm vi bên trong. Nhìn từ hướng đầu nhà tính từ sàn trở lên thì nhà sàn người Chơ ro có dạng hình thoi hộp với phần cạnh là hai mái so với vách không đều nhau. Cửa chính vào nhà sàn Chơ ro được làm từ đầu hồi phía Tây chứ không trổ cửa từ vách như các nhà sàn của người Mạ. Cửa hình chữ nhật, vách trái đầu hồi nhà. Cách bài trí trong nhà sàn Chơ ro khá đơn giản. Điểm đáng chú ý trong trang trí trên cửa vào nhà sàn là một tổ ong. Dạng thức trang trí này thể hiện tín ngưỡng của người Chơ ro để xua đuổi tà ma. </span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><b><i>Nghệ thuật tạo hình, trang trí trên bàn thờ Yang</i></b></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Phần trang trí quan trọng nhất trong nhà sàn của người Chơ ro là bàn thờ Yang. Đây là khu vực quan trọng mỗi khi gia đình của người Chơ ro tổ chức cúng lễ và được trang trí khá độc đáo. Bàn thờ được làm từ cây vàng nghệ và tre. Chiều cao của bàn thờ khoảng l,5m và rộng 1m. Bàn thờ gồm 3 phần và được gắn vào vách nhà chính, về hướng mặt trời mọc. Có hai tầng cách nhau khoảng 20cm. Các tầng lớp được đan bằng phên tre. Còn những cây trụ chính và nối ngang thì làm bằng cây vàng nghệ. Tất cả được chuốc kỹ càng và kết nối theo cách đục lỗ, khoét ngoàm hay buộc lại với nhau. Đầu các cây ngang và cột thẳng chính được tạo hình đầu trâu hay sừng dê cách điệu.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Trên mỗi tầng nấc của bàn thờ được bài trí những vật dụng để cúng và vật cúng. Phía trên của hai cây cột chính gắn hai đèn sáp ong. Trên hai ngăn của bàn Nhang dùng đế bày các lễ vật như: bánh dày, một ít đồ lòng của con vật hiến tế được xâu chuỗi bằng nan tre, chén vỏ cây xông hương và cây Nhang chưa có bôi huyết của con vật hiến tế. Phần dưới cùng là phần trống của nhà sàn dưới hai ngăn trên, trong phạm vi được giới hạn bởi hai cây cột chính của bàn thờ. Đây là nơi để ché rượu cần, ché gạo và những vật cúng (nửa đầu heo, nửa con gà). Trước bàn thờ khoảng 1 mét đặt ché rượu cần. Phía vách đối diện bàn thờ là bộ chiêng được người Chơ ro dùng dây mây treo lên một cây ngang buộc theo một đà cây mái nhà. Những cái chiêng được treo vừa tầm đối với người ngồi đánh.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Phần trần nhà trên bàn thờ là nơi người Chơ ro lưu giữ những vật lễ của mùa cúng thần năm trước như bó lúa, cây mía, cây nhang... Sau lễ cúng thần linh, phần trang trí trước bàn thờ được dọn dẹp, phần bàn thờ và trên trần nhà của bàn thờ được bổ sung những lễ vật, công cụ... của lần cúng thần linh mới nhất.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><b><i>Nghệ thuật tạo hình, trang trí trên cây Nêu</i></b></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Có thể nói, tạo hình, trang trí thể hiện tính độc đáo và đa dạng của người Chơ ro thể hiện trên cây Nêu trong lễ cúng thần Lúa. Người Chơ ro tại xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu khi cúng thần Lúa làm cây Nêu khá lớn. Cây Nêu có ba tầng nấc chính. Trên cao là chùm lúa nhiều hạt vươn lên với vai trò chủ thể cúng của người Chơ ro. Hai tầng nấc cây Nêu nhỏ trên thân cây Nêu chính tượng trưng cho thần linh và tổ tiên. Cây Nêu được dựng lên như một nghi thức có tính chất trình báo về lễ cúng mà người Chơ ro quan niệm đến các thần linh, tổ tiên. Cây Nêu là biếu hiện sự giao cảm, giao hoà giữa con người Chơ ro với thần linh, với tổ tiên.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Người Chơ ro ở xã Phước Bình, phía nam huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, làm cây Nêu có những chi tiết khá độc đáo. Thân cây Nêu làm từ cây tre nhưng tạo dáng bông rọ tròn một phía đầu. Ngọn tre được chẻ ra và liên kết bởi các lạt tre hoặc mây mỏng. Từ bông rọ này có hai tia tre dài cân đối nhau, tỏa ra hai phía và thỏng xuống dưới. Trên các mắt tre ở hai tia tạo dáng trang trí bằng các dăm tre được dát vuốt mỏng đối xứng. Vì vậy, khi tia tre thỏng xuống thì các dăm tre bồng lên tạo hình bông hoa đang nở. Bông rọ trên cây nêu được chưng các lễ vật cúng của trong lễ hội như bánh dày, xôi hấp, thịt gà.. phía dưới gốc Nêu được cắm vào sóp đựng lúa. Cây Nêu được để trong ngay tại bàn thờ chính trên nhà sàn trong suốt thời gian người Chơ ro thực hiện các nghi lễ cúng mừng thần lúa. Riêng tại sân sinh hoạt cộng đồng, người Chơ ro làm một cây Nêu lớn. Cây Nêu cao với phần đầu buộc toả ra hình chiếc bông lúa. Phía dưới gần kề buộc một nhóm lá cây rừng toả ra bốn bên. Phía dưới gốc để những ché rượu cần. Xung quanh cây nêu sẽ diễn ra những trò chơi sinh hoạt thể thao hoặc tấu những nhạc cụ của cộng đồng người Chơ ro.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Người Chơ ro địa bàn xã Túc Trưng, huyện Định Quán làm cây Nêu khá đơn giản. Thân Nêu làm từ cây tre và được chẻ cân đối những thẻ ở hai đầu. Từ những thẻ tre này được nông thành vành lớn dần ra phía ngoài. Những thẻ tre tạo vòng tròn được nối buộc bởi những lạt dây mây tạo thế liên kết, hình thành như cái loa rọ. Người Chơ ro xem đó là cách thể hiện hình thức tượng trưng sinh sôi, nảy nở của những bông lúa nhiều hạt. Cây Nêu được sử dụng nhiều trong các hoạt động của hệ thống nghi thức trong lễ cúng.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Cây Nêu được già làng đem trình cúng trước bàn thờ chính trên nhà sàn. Sau đó, khi đi rước các lễ vật cúng, người già làng dẫn đầu đọàn rước với cây nêu trên tay đến nơi các gia chủ dâng lễ vật như rượu cần, bánh hay thịt vật tế... để rước về nơi bàn thờ chính. Mỗi lần đi rước lễ vật thì một người cầm cây Nêu đi trước, tiếp theo sau là đoàn người dùng nhạc khí cụ và cộng đồng. Khi đoàn rước lễ vật cúng thì những người Chơ ro sử dụng nhạc khí cụ tấu lên những bài cồng chiêng dùng trong lễ hội. Cây Nêu được để ngay bên bàn thờ chính trong suốt quá trình cúng trên nhà sàn chính. Sau buổi cùng, cây Nêu được đem đến phần sân người Chơ ro cùng tham gia sinh hoạt cộng đồng.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><b><i><img alt="" align=right width=414 height=347 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/1111111111111111113032018_121337.jpg">Nghệ thuật tạo hình, trang trí trên thổ cẩm, vật </i></b><b><i>d</i></b><b><i>ụng: </i></b>Qua khảo sát cho thấy, người Chơ ro có dùng thổ cẩm nhưng hiện nay không thấy người Chơ ro dệt thổ cẩm như xưa nữa. Nhiều người Chơ ro cho biết, họ chỉ mua của người Mạ nhưng thổ cẩm đặt mua có đặc trưng của người Chơ ro yêu cầu. Trang phục thổ cẩm của người Chơ ro gồm các loại thường sử dụng là váy và áo. Váy, áo và khố của người Chơ ro thường dệt trang trí hoa văn chà gạc, đường viền, hoa văn móng tay,... Mép váy khâu viền dải hoa văn khung quay sợi,... Chăn của đồng bào thường trang trí hoa văn cổ chim cu, mắt cú mèo và một vài hoa văn bắt chước từ người Mạ. Trên những sản phẩm thổ cẩm của người mạ thường được trang trí bằng đường viền nhỏ hình thoi, trên nền nâu xám điểm xuyến những sợi màu trắng.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Ngoài trang trí trên thổ cẩm, một cách trang trí khá thông dụng của người Chơ ro thể hiện trên vật dụng là chiếc gùi. Màu sắc trên gùi của người Chơ ro là đen và trắng. Phần các nan tre màu trắng và khung gùi thường được bôi màu đen. Trên thân gùi được điểm xuyến những sợi mây bền chắc với màu đen xám. Khung gùi và những sợi mấy vừa có tính chất làm đẹp và làm độ bền. Đặc biệt, một số gùi, người đàn ông Chơ ro sử dụng được trang trí bằng những loại lông chim rừng đẹp. Điều này vừa thể hiện thẩm mỹ cũng như khẳng định tính cách, tài săn bắt của người sử dụng.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Qua tìm hiểu về nghệ thuật tạo hình, trang trí của người Chơ ro ta thấy đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo của đồng bào. Thật tiếc là nhiều nghệ thuật tạo hình, trang trí đã bị mai một. Hy vọng, trong tương lai, với sự quan tâm của chính quyền địa phương, của đồng bào dân tộc nhiều nét đẹp trong văn hóa truyền thống của đồng bào được bảo tồn, lưu giữ và truyền lại cho thế hệ sau này.</span></span></div>
<div style="text-align:right;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt" align=right><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Đào Thanh</span></span></div>
</div>
<p><img src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/ngang3032018_222727.jpg" width=620 height=17></p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 30/03/2018 12:10 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 796</div>
]]></description>
      <author>ntsen</author>
      <pubDate>Fri, 30 Mar 2018 05:13:52 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=59</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Vài nét về Lễ Vun Hoa của người Nùng An</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=35</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8CC242005767480D94BFAE4036C1D2EA><div class=ExternalClass450F278C1C744B928E6857A99294CF19>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Nùng sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang …giáp biên giới với Trung Quốc, hầu hết người Nùng di cư từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang và có quan hệ với người Tày, người Choang. Sau hiệp định Genève tháng 7 – 1954, các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường di cư vào Đồng Nai cư trú và đến đông đảo từ sau ngày đất nước thống nhất.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Theo số liệu thống kê của tỉnh Đồng Nai năm 1996 thì dân số người Nùng có 12.279 người, tập trung nhiều ở các huyện Thống Nhất, Long Khánh, Xuân Lộc, Định Quán... Tuy người Hoa, Nùng, Tày là những dân tộc đến sau các dân tộc bản địa nhưng họ là các dân tộc có trình độ sản xuất tiến bộ hơn, biết thâm canh cây trồng, trồng các cây công nghiệp và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao nên nhiều hộ có thu nhập từ khá trở lên. Phần lớn người Nùng ở Đồng Nai làm nghề nông là chính, chủ yếu trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, số làm nghề buôn bán dịch vụ, tiểu thủ công không nhiều. Các ngành nghề thủ công đã phát triển như nghề dệt mộc, đan lát, nghề rèn, nghề gốm, làm giấy dó, làm ngói âm dương.</font></span></span></p>
<p class=bodytext61 style="text-align:justify;text-indent:42pt;margin:0in 1pt 0pt 0in"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">Đời sống dân tộc Nùng đa dạng, phong phú và giàu bản sắc, người Nùng rất xem trọng vận hạn của đời người nhất là khi sinh ra và chết đi. Vì vậy,</span><span class=apple-converted-space><span style="font-size:14pt"> </span></span><span class=apple-converted-space><span style="font-size:14pt">k</span></span><span class=bodytext1><span lang=VI style="font-size:14pt">hi gia đình có người qua đời, một người đến nhà </span></span><em><span lang=VI style="font-style:normal;font-size:14pt">thày mo</span></em><span class=bodytext1><span lang=VI style="font-size:14pt"> để xem </span></span><span lang=VI style="font-size:14pt">ngày giờ tẩm liệm, động quan, di quan, chôn cất...<span class=bodytext1> mọi vật dụng trên bàn thờ tổ tiên đều </span>bỏ đi hết</span><span style="font-size:14pt">, cúng ma tiễn hồn người chết về cõi âm cắt đứt linh hồn người chết với người còn sống, đặc biệt hàng năm người Nùng không cúng giỗ để tưởng nhớ người đã khuất như các tộc người khác. Đặc biệt người Nùng có quan niệm rất quan trọng về đường con cái do đó dân tộc Nùng khi sinh con ra, họ làm nhiều lễ cúng cầu mong cho con mạnh khỏe, gặp mọi điều tốt lành: lễ An Va cúng khi vợ mang thai con đầu lòng, lễ Khai Bươn cúng đầy tháng cho con đầu lòng, lễ Liềng Can cúng giải hạn cho những trẻ ốm yếu, chậm lớn và trong đó có một lễ đặc biệt quan trọng gọi là lễ Vun Hoa có mệnh rơi vào “hạn con quan”.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Cũng như một số dân tộc khác, người Nùng quan niệm con người chịu sự chi phối bởi lực lượng siêu nhiên mà trong đó Ngọc Hoàng là đấng tối cao nhất. Việc trông coi người ở dưới trần gian được Ngọc Hoàng giao cho các vị thần tiên: Nam Tào trông coi sổ tử, Bắc Đẩu theo dõi sự sống, tính mạng của từng người, Hoa vương Thánh Mẫu (người Nùng gọi là Mẹ Bjoóc) trông coi vườn hoa và các nàng tiên. Mẹ Bjoóc có vườn hoa lớn và tự tay chăm sóc, trực tiếp phân hoa xuống trần gian cho các cặp vợ chồng, hoa vàng tượng trưng cho con trai, hoa bạc tượng trưng cho con gái và mỗi cặp vợ chồng được bao nhiêu con là do mẹ Bjoóc ấn định.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Khi trẻ ra đời, người Nùng ghi lại ngày, tháng, năm của đứa trẻ theo lịch âm, căn cứ vào “chữ mệnh” trong thời gian này mà người Nùng đoán trước được tương lai và vận hạn của con người trong từng thời kỳ. Người Nùng chia đời người ra 5 giai đoạn: từ khi sinh đến 36 tuổi, 37-59 tuổi, 60-71 tuổi, 72-83 tuổi, 84 tuổi trở lên nhưng giai đoạn thứ nhất là quan trọng nhất. Từ khi sinh ra đến 36 tuổi người Nùng xem là người chưa trưởng thành và có 36 cái hạn, một trong những hạn đó gọi là “hạn con quan” tức là mệnh của đứa trẻ này khi sinh ra thì một phần hồn vía bị một trong 36 vị thần nắm giữ, nên có thể bị các quan triệu về trời bất cứ lúc nào do đó mạng sống của chúng thật mong manh, có thể chết yểu. Vì vậy, người Nùng phải tiến hành Lễ Vun Hoa cúng giải hạn.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Để tiến hành lễ Vun Hoa, người Nùng An tiến hành các bước sau:</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">- Páo đẳm: báo cáo với tổ tiên, thánh thần họ tên gia chủ, địa điểm, lý do của cuộc lễ, phần này do hai pháp sư tiến hành lễ.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">- Xin binh mã: pháp sư cùng đoàn âm binh lên trời mượn binh mã và khăn áo để hành trình đi tìm vía</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">- Hành trình đi lên Mường trời tìm vía: <i>(Lúc này khi đi lên lưỡi rìu đặt trong bát gạo trên mâm slay, lưỡi quay hướng lên bàn thờ. Lưỡi rìu là vật hộ mệnh của pháp sư.)</i></font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Pháp sư bắt đầu cúng bằng cách hát trường ca với mục đích của cuộc hành trình này là pháp sư cùng đoàn âm binh gồm: lừa, ngựa, các tướng, binh, phu khuân vác đưa lễ vật lên Mường trời cống cho các thần thánh để tìm vía.<i> </i>Nội dung thể hiện như sau:<i> </i>Sau khi pháp sư cùng đoàn âm binh qua nhiều chặng đường: qua đồng, qua núi, cửa gió, cửa nắng,… thì đến cửa Mẹ Hoa Vương Thánh Mẫu, dâng lễ vật và xin Mẹ giúp tìm vía trở về. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Sau đó pháp sư cùng đoàn âm binh bắt đầu cuộc tìm kiếm vía. Họ tìm vía ở chốn Long Vương vì cho rằng đứa trẻ đi qua các nguồn nước ở bến sông, suối có thể trượt ngã hay rùng mình do ma ở đó bắt giữ. Họ đuổi hồn cáo vì cáo là loại muông thú hay phá hoại mùa màng, khi bị giăng bẫy chết sẽ quay lại hại người, làm đứa trẻ ốm đau, mùa màng thất bát. Tìm vía ở chốn yêu tinh yêu quái vì loại tà quỷ này nhập vào gia súc gia cầm hay vật dụng trong nhà để hại người. Giải hồn Phựt Si vì nếu gia đình có người vợ tái giá lần hai thì pháp sư phải cúng giải hồn. Lên trời tìm vía Lôi vương vì các vị thần sấm, thần sét có thể bắt trẻ khi chúng vào rừng lấy củi, gặp trời mưa, trú ẩn gốc cây bị sét đánh,…và đến ông Thái Tuế mặt tròn là vị quan đại diện cho lòng nhân từ bác ái, che chở nhân gian có thể tìm giúp vía trở về.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">- Hành trình trở xuống trần gian: <i>(lúc này lưỡi rìu trong bát gạo trên mâm cúng được quay trở xuống).</i> Quá trình trở về phải qua nhiều nơi:</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Xuống chốn phong lưu, mường vui vẻ: tức là lúc này hồn vía đứa trẻ không chịu trở về, pháp sư phải dỗ ngọt là về trần sống chốn phong lưu, được vui chơi ca hát, được đi mua sắm nhiều thứ,…như thế vía mới chịu về. Xuống đến chốn Dương Châu: là nơi cuộc sống yên bình, sản vật dồi dào, mùa màng tươi tốt, pháp sư khẳng định với vía là chẳng nơi đâu tươi đẹp như quê nhà của mình. Xuống đến Mường Ma Thương: nơi linh hồn người chết bị lưu đày, đi qua nơi này đoàn âm binh phải nạp tiền và đỗ lễ cho chúng. Xuống đến chỗ các mẹ Quản Thiên, Nam La: để xin các Mẹ phù hộ, che chở cho vía an toàn về nhà. Xuống đến cửa môn hạ giới: là cửa thành vào chốn dương gian, pháp sư mời đoàn âm binh vào nhà ngơi nghỉ. Lúc này đưa vía về đến nhà, pháp sư niệm nhập vía vào thần xác cho trẻ giúp trẻ mau ăn chóng lớn, khỏe mạnh.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">- Trình báo tổ tiên – đưa hồn vía trẻ lên bàn thờ: pháp sư sau khi nhập vía vào thân trẻ, mời tất cả thánh thần và quan khách vào nhà hưởng trà, dùng cỗ để cùng nhau làm lễ Vun Hoa cho chắc, để vía nhập thân cho bền vững và nhờ thánh thần đưa hồn vía lên bàn thờ giao cho Thánh Mẫu trông nom.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">- Sau đó các vật dụng của trẻ bằng hàng mã đem đốt và hoàn trả binh mã. Sau lễ, một mâm cỗ tạp được cúng ngoài sân cầu mong thánh thần giúp trông nom làng bản không cho tà quỷ quấy phá, phù hộ mùa màng tốt tươi. Gia chủ sẽ tạ ơn pháp sư bằng gạo trong mâm cúng, tiền chân hương, gà luộc, đầu heo,…</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Lễ Vun Hoa là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính nghi lễ gia đình nhưng bao gồm nhiều thể loại: văn học, âm nhạc, biểu diễn, mỹ thuật,… Mang tính văn học vì là nội dung là bản trường ca bằng thơ, giàu chất trữ tình, vừa hiện thực mà vừa lãng mạn, phản ánh nguyện vọng của người nông dân ao ước có sức khỏe để làm việc, có cuộc sống yên bình, ấm no: <i>ở nhà bưng ván đẹp/Gió mát thổi thảnh thơi</i>... Mang tính biểu diễn vì pháp sư mặc trang phục đơn giản, kể một câu chuyện về cuộc hành trình cùng đoàn binh mã đi tìm vía, họ hát theo thể thơ truyền thống năm chữ và bảy chữ có xen kẽ các đoạn hát hèo phưn dân ca của người Nùng An tạo sự cuốn hút người nghe. Nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên qua lời ca thể hiện rõ nét, mái nhà sàn quần tụ bên suối, mỏ nước, ruộng bậc thang, quạ bay mỏi cổ, chim bay rã cánh qua cánh đồng: <i>Lúa không cấy mà gặt/Con cua to như cánh diều </i>hay <i>Sáu mươi bậc vòng vèo/Một trăm hai mươi bậc cheo leo</i>…Ngôn từ trường ca giàu hình ảnh vì sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật ví von, cách nói ẩn dụ tả cảnh đông đúc và khí thế của đoàn quân âm binh quay về trần gian: <i>Các quan cùng phu ngựa xuống/Xuống bên bàn rì rầm/Xuống như ống nước đổ/Xuống như con mưa to…</i>Âm nhạc sử dụng trong Lễ Vun Hoa phần lớn là làn điệu dân ca truyền thống, nhạc cụ duy nhất sử dụng là bộ xóc bằng vòng sắt to, giai điệu trầm da diết mang tính tâm tình dễ đi vào lòng người.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Lễ Vun Hoa của người Nùng An là một lễ thức đẹp trong sinh hoạt văn hóa tâm linh, phong phú về nội dung, đề cao vai trò của trẻ em và đặc biệt quan tâm, chăm sóc từ khi mới chào đời. Mặc dù lễ Vun hoa phản ánh sự tồn tại lâu đời của văn hóa người Nùng, đánh dấu quá trình nhận thức về vũ trụ khi mà điều kiện xã hội chưa phát triển nhưng qua đó cũng đã góp phần giáo dục các bậc làm cha mẹ quan tâm đến đời sống tinh thần của trẻ nhỏ, đối nhân xử thế có đức có tình, đó là điều kiện cần thiết ở mỗi con người tạo cho gia đình, xã hội cuộc sống lành mạnh, hạnh phúc.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">--------------------------</font></span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Tài liệu tham khảo:</font></span></i></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:-0.25in;margin:0in 0in 0pt 0.5in;tab-stops:list .5in"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">1.<span style="line-height:normal;font-variant:normal;font-style:normal;font-size:7pt;font-weight:normal">     </span></span><span style="font-size:14pt">Lễ Vun Hoa / Triệu Thị Mai. – Nxb. Dân Trí, 2011.</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:-0.25in;margin:0in 0in 0pt 0.5in;tab-stops:list .5in"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">2.<span style="line-height:normal;font-variant:normal;font-style:normal;font-size:7pt;font-weight:normal">     </span></span><span style="font-size:14pt">Người Nùng ở Việt Nam / Vũ Quốc Khánh, Phạm Ngọc Tuân. – Nxb. Thông tấn, 2010</span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:-0.25in;margin:0in 0in 0pt 0.5in;tab-stops:list .5in"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">3.<span style="line-height:normal;font-variant:normal;font-style:normal;font-size:7pt;font-weight:normal">     </span></span><span style="font-size:14pt">Văn Hóa truyền thống người Nùng An / Nguyễn Thị Yên, Hoàng Thị Nhuận. – Nxb. Đại học Quốc gia, 2010.</span></font></span></p>
<p style="text-align:right"><span style="color:#000000"><span style="font-size:small"><em><strong>Như Quỳnh</strong></em></span></span></p>
<p> </p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 08/11/2017 8:40 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 362</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Wed, 08 Nov 2017 01:45:50 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=35</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Vài nét về phong tục tang ma của người Mường</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=42</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassFC5537633F404069BD4A7955AAB98EAF><div class=ExternalClassEEF0664EF5C84F498E549AA1D051A5FB>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Mường cư trú cư trú chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La, đặc biệt người Mường cho rằng Hòa Bình là quê hương vì tổ tiên của mình có từ thời đẻ đất, đẻ nước vào thời xa xưa. Vì vậy người Mường có sử thi thần thoại rất nổi tiếng là <b><i>Đẻ đất, đẻ nước</i></b>, sử thi kể rằng các trứng đẻ ra các loài trong đó có một trứng đặc biệt đẻ ra con người đó là người Mường và họ đã sinh sôi, phát triển lan tỏa đi các nơi trên đất nước Việt Nam và dân tộc này có mặt ở khắp 53 tỉnh thành. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Mường di dân vào Nam khoảng thời gian từ sau hiệp định Genève (1954), thời kỳ giặc Pháp chiếm đóng nước ta. Theo thống năm 1996, tổng số người Mường ở Đồng Nai là 2.673 người, cư ngụ đông nhất ở xã Phú Túc, huyện Định Quán. Số còn lại rải rác ở các huyện: Xuân Lộc, Tân Phú, Vĩnh Cửu, Thống Nhất… Người Mường ở Đồng Nai chủ yếu sống bằng nghề nông, số hộ buôn bán và làm các nghề khác không đáng kể. Họ định canh định cư, chủ yếu trồng lúa nước, ngoài ra bà con còn trồng rau xanh, cà, bí, đậu xanh… Một số hộ có rẫy xa nhà thì trồng cà phê, điều, bắp, đậu… Hầu hết, các gia đình người Mường nào cũng chăn nuôi gia súc: trâu, bò, heo, gà, vịt. Một số đánh cá trên sông La Ngà vào lúc nông nhàn. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Văn hóa truyền thống dân tộc Mường rất phong phú và đặc sắc, theo nhiều nhận xét thì văn hóa người Mường có nét tương đồng với người Việt trong đó việc thờ cúng tổ tiên, các bậc sinh thành rất được xem trọng. Hàng năm, mỗi gia đình đều cúng giỗ người đã khuất với thái độ tôn kính, người con trai cả phải đảm đương nhiệm vụ nặng nề này và các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên ở vị trí trang trọng giữa nhà.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Khi một gia đình có ông bà, cha mẹ bệnh già ốm yếu, ngoài việc chữa chạy thuốc men, họ hàng và cả những người thân thiết cùng nhau góp gà, góp rượu với gia đình để cúng vía, gọi là vía sửa quan tài tức là mướn người giỏi tay rìu để khoét đẽo, làm mộng quan tài. Có những trường hợp sau khi cúng vía thì người già khỏe trở lại, sống lâu dài. Nhưng cũng có khi không qua khỏi. Khi tắt thở, con cháu giữ cho hai tay người chết buông dọc theo thân mình, lấy vải trắng che mặt lại. Họ luộc một quả trứng, nấu ít gạo nếp, một banh rượu làm cỗ thắt nghỉ (tắt thở). Họ cầm con dao gõ lưng dao xuống ngưỡng cửa ba cái và kêu gọi <i>“Khổ lắm nhà mình đằng này bố (hay mẹ) ơi”</i>. Sau đó, các già làng cho nổi trống báo động có người chết (khác với người Nùng cho thổi tù và, ở một số nơi người Hoa và người Việt cho đánh chiêng) mời các chức việc trong làng tới bàn việc phân công và huy động đóng góp gạo, tiền tương thân tương ái với nhà có tang. Một bộ phận được phân công đi đào huyệt, một bộ phận được cắt cử chuẩn bị khiêng đòn đám ma, những người khác lo việc tiếp tân... Trong cộng đồng Mường, gia đình có tang là người nghèo đều được làng xóm tận tình giúp đỡ, lo việc tang lễ rất đàng hoàng.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Thầy mo coi giờ tốt, định việc lau rửa, khâm liệm thi hài thường sau khi chết ba, bốn tiếng thì làm lễ nhập quan. Bàn thờ người chết dựng cây mía cả ngọn, mỗi bữa đều cúng cơm. Thầy mo thường làm lễ từ xẩm tối trở đi, tùy theo địa vị vai vế người chết mà thầy có bài cúng phù hợp. Hồn ma theo lời hát cúng mà phiêu diêu ngắm cảnh quê hương rồi lên trời gặp tổ tiên, được phán xét (tốt, xấu) rồi lại ngược về nghĩa địa nhưng không được về nhà. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Vấn đề ăn uống trong tang ma, thức ăn chủ yếu là xôi thịt, phụ vào là chuối cây bóc lớp ngoài, thái khoanh nấu với nước luộc thịt, lá lốt, thịt trâu hoặc bò và cho thêm nước khẹ (loại nước lấy từ ruột non của trâu bò, thêm sả tạo hương vị), cách dùng canh khẹ là một thứ văn hóa ẩm thực độc đáo của người Mường. Các bữa trong đám ma thường gọi theo tên theo nghi lễ, ví như cho hồn đi nhìn gọi là bữa nhìn, đưa hồn lên trời gọi là bữa mo lên trời,… con cả phải lo bữa đìm là bữa cuối cùng, còn gọi là bữa về rừng. Thông thường, tang chủ yêu cầu thầy Mo làm hết các thủ tục của mo như: khấn nổ, đẻ gươm, cuông xống áo, đẻ khót đến làm các thủ tục cho hồn như đi nhìn để nhận họ hàng Bên Ma, lên trời để đối kiện, chuộc số, xin đuông, đi chợ mua sắm, sau cùng thì Mo kể chuyện cho hồn và mọi người nghe về sử thi Đẻ đất đẻ nước gọi là Mo cliêu.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đối với âm nhạc, chiên và trống đồng chỉ có giai điệu nhất định, riêng kèn, trống con có từng bài theo từng lúc hành lễ. Ngoài ra, còn có ban nhạc với đàn cò (nhị), sáo,…</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Trước kia, số thanh niên trai tráng được phân công khiêng quan tài từ nhà ra tới nghĩa địa; nay bà con ở Phú Túc đã sắm được xe tang. Trong thời gian này cũng là lúc thợ mã làm nhà xe (nhà táng) để úp quan tài, che mồ mả. Lễ tang diễn ra từ hai đến ba ngày, sau đó tổ chức đưa đám. Tương tự người Việt, con trai hoặc con gái người chết đội mũ rơm (mũ mấn), mặc áo dài xô không viền gấu, các anh chị em hay cháu chắt chít khăn tang màu trắng. Con, cháu ruột nằm lót đường ở cửa để quan tài khiêng qua bên trên. Con trai thì cầm dao đi rừng, con gái cầm quạt và ống nước bằng bương, theo sau thày mo và quan tài ra nghĩa địa. Ống nước đặt ở phía chân mả. Người Mường Hòa Bình để một vài ống nước, còn người Mường Phú Thọ thì phải đủ nam bảy ống, nữ chín ống dùng vào lễ mở cửa mả (nay thay bằng bình để nước cúng)</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Chôn cất được ba ngày, tang chủ làm lễ mở cửa mả. Sau bốn mươi ngày đêm thì làm lễ nộp kéo, lược. Ba tháng mười ngày sau lại làm lễ trăm ngày. Đủ ba năm, gia đình làm lễ đoạn tang (hết tang), những bộ quần áo tang đem đốt bỏ, trước đây lễ mãn tang tổ chức sau ba năm nhưng nay thường tổ chức luôn vào lễ một trăm ngày. Trong thời gian để tang, con cháu phải giữ lễ độ báo hiếu: không hát thường rang, không đi xắc bùa, không vùng vẫy dưới sông nước, không dựng vợ gả chồng, thường xuyên kiên không tắm nước lá bưởi, ngày chôn cất không dựng nhà, làm chuồng gà, lợn,…</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Mường có tục cải táng như người Việt ở miền Bắc. Sau một số năm chôn cất, khi có điều kiện, gia đình bốc mộ người chết, lấy hài cốt chuyển sang tiểu sành và đem chôn lại ở địa điểm khác (có xem ngày giờ cẩn thận). Nấm mồ cải táng mới là ngôi mộ vĩnh viễn.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">----------------------------</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Tài liệu tham khảo:</font></span></i></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">1. Diễn xướng nghi lễ - Di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc Mường .- Nxb. Văn hóa dân tộc, 2015.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">2. Mo lên trời: Bài ca đưa hồn người chết đến cõi vĩnh hằng - Tác phẩm tối cổ của dân tộc Mường. – Nxb. Văn học, 1994</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-indent:0.25in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">3. Địa chí Đồng Nai, tập 5: Văn hóa – xã hội. – Nxb. Đồng Nai, 2001</font></span></span></p>
<p style="text-align:right"><em><strong><span style="font-size:small">Như Quỳnh</span></strong></em></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/11/2017 9:10 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 323</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 21 Nov 2017 02:16:12 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=42</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Giá trị tinh thần trong lễ hội Sa Yang Va của người Chơro</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=1</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA596F26F98A74CA89C9C6F70FC27E18A><div class=ExternalClass867AC80033794CFDAC18E54B52607C87>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sa Yang Va còn gọi là lễ cúng thần Lúa hay lễ mừng lúa mới, đây là lễ hội truyền thống của người Chơro ở Đồng Nai. Trước đây, lễ cúng Sa Yang Va được người Chowrro cúng theo đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ịnh kỳ hàng năm. Thời gian cũng không ấn định cụ thể, nhưng thường trong khoảng từ tháng hai đến tháng ba âm lịch, vào những ngày trời đẹp, đêm có trăng sáng. Đây là lễ hội lớn nhất của cộng đồng, kéo dài nhiều ngày đêm, mang những dấu ấn về lễ nghi nông nghiệp của người Chơro.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"> </span></p>
<div style="text-align:center"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img width=577 height=351 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-10/cung-than-lua6102017_93957.jpg"></span></span></div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ba địa điểm chính, quan trọng theo diễn trình cúng lễ của Sa Yang Va là: Rẫy lúa, Nhà sàn và Kho lúa. Chuẩn bị cho lễ cúng cúng Sa Yang Va người ta chuẩn bị rất nhiều việc. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chọn chùm lúa rẫy:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> là một vạt lúa tốt có những bông lúa trĩu hạt ở rẫy lúa. Khi thu hoạch, người ta để dành lại. Người Chơro quan niệm hồn lúa rẫy trú ngụ nơi đây, vì vậy khi tổ chưc lễ Sa Yang Va thì họ đến rước về. Nghi thức rước hồn lúa là nghi lễ đầu tiên rất quan trọng trong lễ cúng Sa Yang Va.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 0cm"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Dựng kho lúa:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Kho lúa là nơi chứa lúa của người Chơro thường ở gần nhà dài. Đây là nơi rất quan trọng có thần Lúa bảo quản nguồn lương thực chính của họ. Chuẩn bị cho lễ Sa Yang Va, đồng bào dọn dẹp kho lúa và sắp sẵn mâm lễ vật để cúng ở nơi này.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Dựng bàn thờ Nhang:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Là nơi đặt lễ vật cúng Yang trong nhà ngươi Chơro. Bàn thờ Nhang được làm từ cây vàng nghệ và tre. Chiều cao của bàn thờ khoảng 1,5 m, chiều rộng khoảng 1m được gắn trực tiếp vào vách nhà chính, hướng đông. Bàn nhang có hai tầng đan bằng phên tre để đặt lễ vật cúng lễ. Đây là nơi diễn ra những nghi thức chính và quan trọng nhất trong lễ cúng Sa Yang Va.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Làm cây nêu:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Chuẩn bị tổ chức cúng Sa Yang Va, người Chơro thường làm một cây nêu đặt ở giữa sân (trước nhà sàn có bàn thờ Nhang). Đây cũng là điểm diễn ra lễ cúng, đồng thời là không gian tổ chức đốt lửa và sinh hoạt cộng đồng trong thời gian lễ hội. Cây nêu được dựng lên như một nghi thức có tính chất trình báo về lễ cúng với thần linh là biểu hiện của sự giao cảm, giao hòa giữa con người với thần linh và tổ tiên.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ủ rượu cần (xe tơm): </span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trong các dịp cúng lễ, đám cưới, làm nhà, đặc biệt trong lễ cúng Sa Yang Va, người Chơro thường làm rượu cần trước lễ nhiều ngày (khoảng một tháng trước đó). Nguyên liệu chính chế biến rượu cần từ các loại gạo tẻ, nếp hoặc bắp rẫy của chính gia chủ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Giã bánh dày (piêng puh):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> là lễ vật bắt buộc trong lễ cúng thần Lúa của người Chơro ở Đồng Nai (cùng với các món khác như: cơm lam, khoai mì nướng, củ nần, củ chụp, thịt heo, thịt gà...). Đây là loại thực phẩm được chế biến từ lúa gạo do bà con làm ra. Nay bà con dâng lên thần Lúa tạ ơn đã ban cho họ mùa màng thuận lợi, mừng mùa lúa mới. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nấu cơm lam (piêng đinh):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Cơm lam được người Chơ ro nấu trong từng đoạn lóng tre. Cơm lam dẻo mềm có  hương vị thơm, béo và ngọt.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nướng đọt mây:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Người Chơro có tập quán dùng đọt mây để chế biến thực phẩm trong bữa ăn gia đình. Những đọt mây trắng, ngọt, lành tính, có thể ăn sống hoặc nấu canh, là loại thực phẩm truyền thống của người Chơro ở Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Trong những dịp lễ hội, người Chơro thường có đọt mây nướng ăn rất ngọt.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nướng củ chụp, củ nần, khoai mì:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Củ chụp và củ nần là loại cây có thân dây leo, có củ nằm sâu dưới đất chứa nhiều chất bột, được đồng bào thiểu số thường chế biến ăn thay cho gạo. Vào dịp lễ cúng Nhang Lúa, người Chơro vào rừng đào củ chụp, củ nần và khoa mì về nướng cúng lễ và đãi khách. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nướng lá bép (lá nhíp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Đây là loại rau rừng ở miền Đông Nam bộ. Lá bép to, mỏng, dầu nhọn dài, giống dạng lá xoài non, có màu xanh và tím. Chuẩn bị món ăn, phụ nữ Chơro vào rừng hái lá bép về trước một ngày. Người ta lau sạch lá chuối, nhúng lá bép vào nước, rồi rảy nhẹ cho ráo nước. Sau đó xếp lá bép vào lá chuối gói lại cho kín bốn góc theo hình vuông rồi kẹp vào nẹp tre đặt lên bếp lửa nướng. <a name=bookmark2></a></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Địa điểm cúng lễ Sa Yang Va:</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Rẫy lúa:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Liên quan đến nghi thức rước hồn lúa. Tại đây, khi thu hoạch mùa, để lại vạt lúa có chùm bông nhiều hạt, chín vàng. Những bông lúa dược bó lại bằng tranh, rơm, lá chuối và rào bốn bên bằng các loại gai tre, cây cối bảo vệ cẩn thận cho đến lễ cúng Sa Yang Va thì tổ chức rước hồn lúa về.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nhà sàn:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Trên gian nhà chính của nhà sàn để bàn thờ Nhang và là nơi diễn ra những nghi thức cúng trình Yang Nhi (Yang Nhà). Trước bàn thờ khoảng 1m đặt ché rượu cần. Phía vách nhà đối diện bàn thờ Nhang là bộ chiêng được người Chơro dùng dây mây cột treo lên một cây ngang. Những cái chiêng được treo vừa tầm đối với người ngồi đánh. Cây nêu được dựng giữa sân. Gốc cây nêu là nơi cột những con vật sẽ làm thịt để hiến tế trong lễ hội (thường là heo). Cách cây nêu khoảng 2m có dựng giàn để treo chiêng. Sân xung quanh cây nêu buộc những băng ghế bằng cây rừng làm chỗ ngồi cho người dự lễ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Kho lúa:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Là nơi để cất giữ lúa mà người Chơro thu hoạch mùa màng vừa qua. Trước đây với sàn kho bằng gỗ thì người Chơro trải lúa trên cả phía trong kho. Nay, với nhu cầu bảo quản lâu dài nên người Chơro sử dụng các đồ dựng bằng nhiều chất liệu để chứa lúa và cất giữ trong nhà kho. Dù nhà kho còn chứa lúa hay không thì khi tổ chức lễ cúng Sa Yang Va thì trong kho phải có một số lúa tượng trưng. Nhà kho được dọn cho tươm tất, sạch sẽ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Lễ hội Sa Yang Va</span></b><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> được thực hiện theo các trình tự sau:</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Rước hồn lúa: </span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đây là nghi thức đầu tiên trong ngày lễ hội chính thức. Từ sáng sớm, gia đình người Chơro cử một đoàn người do người phụ nữ (người mẹ hoặc con gái lớn) dẫn đầu đi rước hồn lúa. Sau những nghi thức cúng, rót rượu được thực hiện sau đó, người phụ nữ cắt lúa đem về. Sau khi cắt lúa xong, người phụ nữ tiếp tục đến khu vườn trồng cây trái, chọn chặt lấy hai cây chuối con đem về cúng lễ với ý nghĩa cho con cháu trong gia đình mau lớn, mạnh khỏe như cây chuối con này. Tiếp theo chặt cây chuối là chặt lấy chùm hoa cau rừng đem về để làm lễ vật dâng cúng thần Lúa. Đây là những loại cây trái, lương thực và hoa quả có chất dinh dưỡng, hương thơm tượng trưng cho sự lớn mạnh, khỏe khoắn và vững chãi trong cuộc sống.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Cúng tổ nhang nhà: </span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sau nghi thức rước hồn lúa gia đình tổ chức cúng thần Lúa. Chùm lúa rẫy, hai cây chuôi, chùm hoa cau đem về đều được giăt lên trên trần nhà trước bàn thờ gọi là tổ nhang nhà. Đầu tiên chủ nhà cúng tổ nhang nhà. Già làng bắt đầu thực hiện những nghi thức như trang trí bàn thờ, sắp đặt lễ vật trên bàn thờ, nôi những cầu thang bằng sợi chỉ từ ché rượu lên tổ nhang nhà với ý nghĩa làm cầu thang để thần từ trên trời có thể xuống ngự chung với gia đình trong ngày lễ trọng đại này.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Hiến sinh gà trống: </span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Thịt gà và lòng gà là một trong những lễ vật thường thấy trong lễ cúng Nhang Lúa của người Chơro. Thịt gà được làm từ loại gà trống của gia đình nuôi hoặc đi mua về. Không có quy định cụ thể nhưng gà dùng cúng thường mạnh khỏe, có dáng vóc đẹp và nhanh nhẹn, thịt nhiều.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Hiến sinh heo cúng:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Vào ngày cúng Nhang, heo là vật hiến sinh. Chuẩn bị cho lễ hiến sinh. Con heo bị cột dưới chân cây nêu. Sau khi gia chủ làm lễ rước hồn lúa về, lên bàn thờ Nhang đọc lời mở đầu cúng thần Lúa, bắt gà cắt cổ, đọc lời cúng Nhang Lúa, rồi làm lễ giết heo. Thịt heo là một trong những lễ vật chính cúng lễ của người Chơro. Loại heo người Chơro dùng làm lễ vật cúng trong lễ Sa Yang Va là loại heo cỏ. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Cúng Nhang Lúa: </span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sau khi có đủ lễ vật, trên bàn thờ nhang như: bánh dày, cơm lam, bông lúa rẫy làm bằng tre, khoai mì, củ chụp, huyết, ngũ tạng heo và gà..., chủ nhà bắt đầu cúng thần Lúa. Đây được coi là nghi lễ chính của lễ hội Sa Yang Va của người Chơro. Hòa với những lời cúng của chủ nhà ở trên nhà sàn, ở dưới sàn nhà, từng hồi cồng chiêng dánh lên dồn dập, âm thanh vang xa nghe rất rộn rã. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Cúng Nhang kho lúa:</span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Tiếp theo cúng bàn thờ Nhang là nghi thức cúng kho lúa. Từ bàn thờ Nhang trên nhà sàn, chủ nhà xuống sân, ra góc vườn cúng kho lúa. Đây là nơi cất giữ thóc lúa của gia đình. Nơi nào có lúa, thì thần Lúa ngự trị. Mâm lễ cúng kho lúa là sàng tre đựng dĩa huyết heo, gà, lòng mề gà, bánh bày, khoai, củ chụp, rượu cần, đèn cầy sáp...</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sau phần lễ là phần hội, những người tham gia trong và ngoài cộng đồng có thể tham gia ca hát, nhảy múa, lúc này những nghệ nhân Chơro lớn tuổi có thể biểu diễn những loại nhạc cụ truyền thống như: thổi kèn lúa, kèn môi, đánh cồng chiêng hay hát dân ca của dân tộc mình. Mọi người có thể thưởng thức cơm lam, thịt rừng nướng, uống rượu cần một cách thoải mái say sưa hòa mình cùng với những lời ca điệu múa trong tiếng cồng chiêng dập dồn, rộn rã.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Có thể nói, lễ cúng thần Lúa là một trong những lễ hội lớn của các dân tộc bản địa Đồng Nai. Lễ Sa Yang Va của người Chơro thể hiện sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Chơro, tạ ơn thần Lúa đã ban cho họ được mùa vụ thuận lợi, qua đó thể hiện tâm lý, nguyện vọng của một cộng đồng dân cư sinh sống bằng nông nghiệp, lệ thuộc vào tự nhiên, cầu mong thần linh phù hộ cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Lễ hội Sa Yang Va đã phản ánh giá trị tinh thần của người Chơ ro, làm phong phú hơn bản sắc văn hóa dân tộc trong kho tàng lễ hội các dân tộc ở Đồng Nai.</span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><i><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đinh Nhài</span></i></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/10/2017 9:35 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 229</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Fri, 06 Oct 2017 02:40:17 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=1</guid>
    </item>
    <item>
      <title>KIẾN TRÚC NHÀ DÀI CỦA NGƯỜI MẠ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=46</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass23C872FC6B5647D2A5073FB3296CB6D2><div class=ExternalClass15F5D39601274792BE779369C6AA75CA>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Người Mạ là cư dân bản địa sinh sống lâu đời ở phía nam Tây Nguyên. Mạ là tộc danh đồng bào tự gọi cùng với tên khác là Châu Mạ, Chò Mạ, Chê Mạ. Nhóm địa phương gồm có Mạ Ngàn, Mạ Xốp, Mạ Krung, Mạ Tố. Tiếng Mạ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer. Dân tộc Mạ có khoảng hơn 46.202 người, cư trú tập trung ở tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước và Đồng Nai.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nhà dài là kiến trúc cư trú cổ truyền độc đáo của người Mạ nói riêng và các dân tộc Tây Nguyên nói chung. Thế nhưng, nhà sàn của mỗi dân tộc có những nét riêng. Nhà dài có nhiều thế hệ sinh sống là sự phản ánh tính cố kết gia đình bền chặt của người Mạ trong cuộc sống. Một số tư liệu cho biết vào đầu thế kỷ 20, có những ngôi nhà sàn dài cả 100 mét. Trước khi địa bàn sinh sống người Mạ bị tác động bởi nhiều yếu tố, mỗi buôn của người Mạ có nhiều nhà dài. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nhà dài được làm từ những vật liệu có sẵn, dễ tìm trên địa bàn người Mạ sinh sống như cây gỗ, tre, mây… Trên bình diện tổng thế, kiến trúc nhà dài theo dạng hình chữ nhật. Nhà dài có hai mái. Sàn nhà cao cách mặt đất từ khoảng 0,5 mét đến 1,0 mét. Hiện nay, đa số nhà dài hiện hữu trong các buôn người Mạ có khoảng cách với mặt đất chưa quá 0,8 mét. Khi làm nhà dài, người Mạ thường chuẩn bị vật liệu trước đó một khoảng thời gian khá dài. Có một số điều kiêng kỵ khi chặt cây gỗ để làm nhà như chọn các loại cây thẳng, không có dây leo, không chọn cây đã chết khô. Khu vực đất làm nhà dài được chọn lựa kỹ càng, không gần khu nghĩa địa, không có thú vật nào chết trên đó.</span><font face=Calibri><span style="border-bottom:black 1pt;border-left:black 1pt;padding-bottom:0in;padding-left:0in;layout-grid-mode:line;padding-right:0in;background:black;font-size:1pt;border-top:black 1pt;border-right:black 1pt;padding-top:0in"> </span></font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img align=right width=387 height=223 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/kien-truc-nha-dai21112017_153338.jpg">Khi bắt đầu làm nhà, già làng đào một hố nhỏ để chọn cây cột chính. Trong hồ đào đó có bỏ một số than hồng phía dưới, sau đó trồng cột lên trên. Người Mạ cho rằng, đó là cách làm cho nhà có hơi ấm từ than hồng và cũng là một dạng <i>“chú yếm”</i> không cho các thế lực như ma quỷ đến phá hoại. Cây cột được già làng trồng được xem là cột trung tâm của ngôi nhà sẽ được dựng. Những người làm nhà sẽ từ đó mà bắt đầu mở rộng theo hướng nhà định sẵn. Hướng nhà được người Mạ chọn theo thường theo hướng đông – tây hoặc chếch theo hướng này. Như vậy, với hướng nhà này, mặt trời không đi ngang qua đón đông, nhà sẽ không hứng chịu ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào trong cả ngày. Người Mạ cho rằng, nếu nhà bị ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào thì ảnh hưởng những người sống trong đó dễ bị bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe. Ngày dựng nhà cũng được chủ nhà chọn kỹ càng như trong buôn không có người chết, không có phụ nữ sinh đẻ để tránh những điều kém may mắn cho gia chủ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nhà dài được làm bằng vật liệu từ các cây gỗ, tre chỉ được gọt đẻo đơn giản và sơ sài. Kỹ thuật liên kết các thành tố kiến trúc cột chủ yếu là làm ngoãm đầu cột đơn giản để các gác nối cây và buộc dây là chủ yếu. Sàn nhà của người Mạ có ba hàng cột chính được xem là khung chịu lực chung cho cả nhà. Hàng cột giữa có ít cột hơn hai hàng cột ngoài cùng. Hầu hết các bộ phận cây gỗ trong kiến trúc gỗ trong nhà dài được buộc chặt bằng bởi dây mây, ít sử dụng kỹ thuật ngoàm hay đục mộng gắn kết.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sàn nhà dài được cấu kết 5 lớp theo thứ tự từ dưới lên, gồm: 4 lớp gỗ, tre chồng lên nhau, cuối cùng là lớp tấm tre nứa (đập dập) kết thành tấm trải trên cùng. Phần vách được cấu tạo từ tấm phên tre lồ ô được đập bè ra, phơi khô và liên kết theo tấm bởi các nẹp hai bên. Vách nhà dài Mạ được tạo hơi vát nghiêng vừa phải từ sàn lên mái, Phần khung mái nhà được cấu kết bởi các cột dọc từ đòn dông đến hàng cây ngang trên cột vách. Mái được lợp chủ yếu bằng lá mây kết thành tấm. Mỗi tấm mây thường có chiều dài hai mét, nên mỗi bên mái chỉ cần hai lớp tấm mây là che đủ từ trên đòn dông xuống vách nhà.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sự phân chia trên mặt sàn nhà dài dân tộc Mạ như sau: Một lối đi chung kéo dài qua hai đầu hồi sát phía trong vách trước. Phần diện tích này là lớp tre dọc thứ 5 trên cùng, không lót sàn tre nứa (gọi là N’dâng). Phần còn lại trên mặt sàn được lót các tấm tre nứa kéo dài cho tới sát vách sau cửa nhà. Trên phần lớp tre nứa này, mỗi gia đình nhỏ để chiếc bếp riêng của mình phía trước, thường là giữa khoảng không gian của gia đình nhỏ. Phần còn lại để sinh hoạt, đặc biệt là dành cho nghỉ ngơi. Phía vách sau của phần không gian cửa chính đi vào và bếp khách là khoảng không gian linh thiêng. Đây là nơi đặt bàn thờ của gia đình hay dòng họ (Nao). Tại đây, trước bàn thờ thường là cây nêu. Dọc theo vách sau của nhà là nơi để những ché của gia đình. Ché được xem là tài sản lớn của gia đình. Nếu một dòng họ lớn thì cặp theo vách này là hàng chục, hàng trăm ché được sắp xếp nối tiếp nhau, sát vách. Trong số ché này, có những chiếc quan trọng, được xem là <i>“có linh hồn”</i> vốn được dùng trong những lễ cúng quan trọng qua nhiều thời kỳ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nhà dài người Mạ có cách trổ cửa ra vào độc đáo. Đặc biệt, những hình ảnh chụp từ đầu thế kỷ 20 cho thấy có nhà dài hàng trăm mét với ba cửa chính. Có lẽ, khi nhà dài được nối ra có nhiều bếp thì người Mạ trổ thêm phần cửa để tiện việc đi lên hay xuống sau hai cửa chính ban đầu. Cửa chính là nơi dẫn lên phần không gian gần nhất với bếp khách. Cửa chính dành ưu tiên cho khách đến nhà. Còn cửa phụ dành cho các thành viên. Cửa chính có hai cây cột từ dưới đất nối lên trên vách. Trong khi đó, cửa phụ thì không có các cây cột này. Người Mạ cho rằng, cây cột bên trái hướng từ nhà nhìn ra sân là cây tượng trưng cho tổ tiên. Vì vậy, khi có khách đến nhà, gia chủ trình báo với cây này bằng cách lên một thành cây gõ nhiều lần vào với lời trình báo tổ tiên trước khi mời uống rượu cần. Điểm giống nhau ở hai cửa ra vào này là phần mái lợp phía trên. Người Mạ dùng một số thanh tre hoặc cây trúc nâng vòm mái cửa tạo dáng giống hình mu rùa nhô lên. Có ý kiến cho rằng dạng thức cửa ra vào <i>“kết cấu dạng vòm, trông tựa như những lối vào hang động của người nguyên thủy”</i>. Nhà dài của người Mạ cũng có dạng trổ cửa ở đầu hồi phía tây. Cửa thường được trổ lệch về phía mái trước với dạng hình chữ nhật.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Về cấu trúc chung của nhà dài, có thể nhìn nhận ở các phần không gian như sau: từ mặt đất đến sàn nhà và từ sàn nhà đến đòn dông. Phần không gian trong từ trên sàn trở lên là trung tâm chính cho các sinh hoạt của gia đình. Sự phân chia trong không gian sinh hoạt nhà dài được phân định theo ngôi thứ trong gia đình. Đầu hồi phía đông được xem là gốc nhà. Nếu gia đình có nhiều thế hệ sinh sống thì nơi này giành cho người lớn tuổi nhất là ông bà, kế đến là cha mẹ. Cứ thế, mỗi phần không gian được chia cho các gia đình theo vị trí anh chị trở xuống cho các thành viên khác nối tiếp. Mỗi phần không gian như vậy được tính là một gia đình mà đặc trưng để nhận biết là một cái bếp. Khi trong gia đình có thành viên lập gia đình thì nhà dài được nối tiếp ra bởi một bếp nữa. Phần làm nối ra này thường bắt đầu từ nhà hướng tây. Vì vây, có thể xem thiết chế nhà dài là một thiết chế mở, bắt đầu từ nhà sàn bình thường ban đầu được dựng. Nhà dài cứ thế được mở rộng trong cơ cấu cư trú cổ truyền của người Mạ với hạt nhân là gia đình lớn được duy trì.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Độc đáo nhà dài của người Mạ là trong căn nhà mái dài có thể có tới cả chục cái bếp – cả chục gia đình cùng sinh sống. Mỗi gia đình tự chủ về mặt lương thực và là một thành tố độc lập trong nhà dài. Đặc biệt nhất giữa các gia đình trong ngôi nhà dài là không hề có sự ngăn cách về mặt không gian sinh hoạt. Các tiểu gia đình nhóm bếp sát cạnh nhau và có thể với tay đến nhau khi ngủ. Trong những căn nhà của người Mạ đông đúc thời cổ xưa, có vài ba đến năm, bảy gia đình dưới một mái nhà chưa bao giờ xảy ra sự chia rẽ, mất đoàn kết hay những biểu hiện tiêu cực khác về tình cảm gia đình. Một điều đáng nói là trong không gian chung không có ngăn cách, những gia đình Mạ vẫn hàng ngày, hàng đêm hiễn hiện những sinh hoạt đời thường, vẫn âm thầm những sinh hoạt chồng vợ sinh con đẻ cái trong những đêm rừng hồng hoang, phồn sinh và mạnh mẽ. Từ thuở xa xưa nhưng chưa nghe ai phàn nàn về một sự vi phạm đạo đức gia đình nào dù là rất nhỏ. Đây cũng là một điều khá kỳ lạ trong không gian nhà dài.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ở một phần trong không gian trung tâm nhà dài có một bếp với tính chất đặc biệt là dùng cho khách. Bếp này không dùng trong nấu nước, chỉ dùng để sưởi ấm. Phần không gian này cũng là nơi diễn ra những nghi thức cúng lễ quan trọng, thành viên gia đình tập trung với nhau.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nhà dài không chỉ là nơi sinh hoạt hàng ngày của gia đình, dòng tộc mà nó còn là không gian thiêng, không thể thiếu trong đời sống tâm linh. Bởi nó không chỉ là nơi sinh hoạt, hội họp mà còn là nơi tổ chức các nghi lễ thờ cúng thần linh.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Có thể nói, nhà dài của đồng bào dân tộc thiểu số là một sản phẩm vật thể rất độc đáo, không chỉ về mặt kiến trúc, kết cấu phù hợp với cuộc sống, sinh tồn của những tộc người sống trên núi rừng, mà còn ở cách thức khai thác không gian sinh hoạt và hình thức tổ chức xã hội trong một ngôi nhà của một gia đình và của một dòng tộc. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trong những năm gần đây, trước sự tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa cùng với sự giao thoa văn hóa, nhà dài đã bị mai một. Ở Đồng Nai, kiến trúc nhà sàn dài không còn hiệu hữu. Trên địa bàn Lâm Đồng, nhà sàn dài người Mạ ngày càng vắng bóng. Nhiều hộ đồng bào đã phá bỏ những ngôi nhà dài truyền thống để xây dựng những ngôi nhà bằng gạch, bằng bê tông đẹp khang trang phù hợp với xu thế cuộc sống hôm nay là điều tất yếu. Tuy việc tiếp cận <i>“cái mới”</i> là chuyện dĩ nhiên, nhưng cũng cần phải biết chọn lọc <i>“cái cũ”</i> để bảo tồn, gìn giữ cho các thế hệ mai sau trong đó có <i>“nhà dài”</i> - một nét văn hóa không thể thiếu.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:right;line-height:normal;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><i><span style="line-height:115%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">_Thanh Vân_</span></i></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/11/2017 3:30 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.058</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 21 Nov 2017 08:33:51 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=46</guid>
    </item>
    <item>
      <title>DI VẬT TÙY TÁNG CỦA NGƯỜI CHƠRO</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1E60F4A4A01143D5B31AB38DF7992DE9><div class=ExternalClass43AD5372A6C54D5A8CCE600FB9528042>
<div class=ExternalClassF076D7CB07AE418F8203427E81AF7F8D>
<div class=ExternalClass48DB320CA48A4CE8A747DF913081E398>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">C</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">uố</span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">i</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> năm 2006, những người đi rà phế liệu tình cờ phát hiện ra những di vật bằng đồng chôn dưới lớp đất đỏ tại vườn tiêu tư nhân, giáp lô cao su - Nông trường Cao su Túc Trưng, Định Quán (thuộc ấp Cây Xăng, xã Phú Túc, huyện Định Quán) đường đi Suôi Nho, Xuân Lộc. Sau đó, số hiện vật này đã được họ thu lượm và nhượng lại cho cơ quan chuyên môn quản lý. Bộ hiện vật (gần 30 hiện vật) chủ yếu là những vật dụng sinh hoạt và nhạc cụ truyền thống được phân loại như sau:</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Mâm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01; chất liệu đồng dày, nặng. Mâm hình tròn, gồm có lòng trũng xuống và vành mâm cao, mép vành phẳng, không có hoa văn. Mâm bị gỉ ten xanh, vành mâm bị móp. Niên đại mâm khoảng trên 100 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Mâm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Mâm hình tròn không hoa văn. Vành mâm có hai vết nứt đối xứng chạy vòng theo đường gờ vuông góc giữa vành và lòng mâm. Mép mâm phang, mòn gỉ, có một vết nứt dọc từ mép vào trong. Mâm tương đối mỏng nhẹ. Cạnh mâm hơi xéo ra ngoài, tạo cho lòng mâm sâu rộng một cách tự nhiên. Mâm cũ, gỉ đồng xanh và nâu dỏ dính đất đỏ nơi phát hiện. Niên đại khoảng trên 100 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chiêng không núm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Chiêng lớn hình tròn, mặt phẳng, còn nguyên vẹn bằng đồng dày tốt, nặng. Vành chiêng tương đối vuông góc với mặt chiêng. Chiêng cũ, bị gỉ đồng ten xanh xám. Niên đại khoảng 300 - 500 năm.</span></span></p>
<div style="text-align:center"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img alt="" width=563 height=413 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/cong-chieng2632018_8298.jpg"></span></i></span></div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chiêng không núm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Chiêng hình tròn mặt chiêng bằng phẳng, vành chiêng tương đối thẳng góc với mặt chiêng. Chiêng bằng đồng tương đối dày nặng. Chiêng còn nguyên vẹn, bị gỉ ten xanh xám, dính dấu vết của đất đỏ. Niên đại khoảng 300 </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">-</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> 500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chiêng không núm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Mặt chiêng tròn. Chiêng tương đối dày, nặng, hình dáng còn nguyên vẹn. Mặt chiêng có nhiều vết gõ lõm xuống dấu vết của việc đánh chiêng. Chiêng cũ, bị gỉ ten xanh xám, còn dính dấu vết của đất đỏ bám trong và ngoài chiêng. Niên đại khoảng 300 </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">-</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chiêng có núm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Mặt chiêng tròn, ở giữa có núm để gõ. Vành chiêng xiên, xu hướng khum dần vào trong. Núm hình bán cầu nổi lên giữa mặt chiêng. Chiêng cũ, gỉ ten xanh, xám đen, còn dấu đất đỏ bám cả trong và ngoài chiêng. Niên đại khoảng 300 </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">-</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> 500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chiêng có núm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Mặt chiêng tròn, núm nổi hình bán cầu giữa tâm mặt chiêng. Núm chiêng hơi bị dập lõm bề mặt, xung quanh chân núm và mặt chiêng bị méo lõm xuống dưới tạo cho mặt chiêng bị vênh vẹo, móp méo biến dạng, không bằng phẳng. Chiêng cũ, bi gỉ ten xanh, bể rách vài chỗ ở cạnh mặt và vành chiêng. Chiêng bằng đồng tương đối mỏng nhẹ. Niên đại khoảng 300 - 500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chiêng có núm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Chiêng tròn, bề mặt gợn sóng, có ngấn nổi tam cấp. Núm ở giữa mặt chiêng hình bán cầu. Đồng tương đối mỏng nhẹ. Chiêng cũ, bị gỉ ten xanh, còn dính đất đỏ. Niên đại khoảng 300 - 500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chiêng có núm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Chiêng hình tròn, giữa là núm hình bán cầu. Chiêng cũ, bị gỉ ten xanh xám, còn dấu đất đỏ. Niên đại khoảng 300 - 500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chiêng có núm:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Chiêng còn nguyên vẹn, hình tròn, bề mặt gợn sóng, giữa có núm để gõ. Chiêng cũ, bị gỉ xanh, còn dính lốm đốm đất đỏ. Niên  đại khoảng 300 -</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nồi hai quai thân đáy tròn (không nắp</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">): số lượng chất liệu đồng. Nồi có hình dáng thân tròn, đáy tròn, phía trong có đường chỉ nổi cách miệng lcm làm gờ để đậy nắp. Nồi bằng đồng dày, tốt, phía ngoài nồi còn vết lọ than nên không bị oxít hóa, màu dồng đen, phía trong bị gỉ ten xanh, mất nắp đậy. Niên đại khoảng 200 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nồi 2 quai thân đáy tròn (có nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Nồi có dáng thân tròn, vai xuôi, đáy tròn, dưới quai nồi có hai đường chỉ. Nắp đậy hình bán cầu, nắp cũ, gỉ ten xanh. Niên dại khoảng 200 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nồi hai quai thân đáy bầu tròn (có nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> chất liệu đồng. Niên đại khoảng 200 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nồi hai quai thân tròn dẹp, đáy cong lồi (không nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Nồi cũ, dáng tương đối nguyên vẹn (mất nắp). Niên đại khoảng 200 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nồi hai quai thân tròn dẹp, đáy lồi cong (có nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Nồi tương đối nguyên vẹn, dày, chắc. Niên đại khoảng 200 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nồi quai thân dẹp, đáy lồi cong (không nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Nồi tương đ</span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ố</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">i nguyên vẹn, dày, nặng. Niên đại khoảng 200 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nồi không quai, thân đáy tròn, cổ thắt túi (không nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Nồi không quai thân bầu tròn đã cũ, bị gỉ ten xanh xám đen, bên trong còn dính đất đỏ. Miệng nồi hơi bị móp nhẹ. Niên </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ại khoảng trên 100 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ô trầu lớn (có nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Ô trầu tương dối nguyên vẹn, dày, tốt. Niên đại khoảng 300 </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">-</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> 500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ô trầu lớn (có nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Ô trầu bằng đồng dày tốt, tương đối nguyên vẹn. Niên </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ại khoảng 300 - 500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ô trầu lớn (có nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng tương đối nguyên vẹn về hình dáng. Niên đại khoảng 300 </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ô trầu nhỏ (có nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Dáng ô trầu còn nguyên vẹn bằng đồng dày, tốt. Niên đại khoảng 300 </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ô trầu nhỏ (có nắp):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Trong ngoài gỉ xanh, xám đen. Ô trầu cũ, nguyên vẹn, tốt, dáng đẹp. Niên đại khoảng 300 - 500 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ô trầu nhỏ (có nắp): Số lượng 01, chất liệu đồng. Ô trầu đã cũ, gỉ xanh và dính đất đỏ. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ống ngoáy trầu (có cây têm):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Số lượng 01, chất liệu đồng. Ông ngoáy và cây têm trầu bị gỉ xanh và bịphủ lớp đất đỏ bazan. Ống ngoáy bằng đồng dày, nặng, nguyên vẹn. Niên đại khoảng 200 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Lư trầm (quai xách kép):</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Lư gồm 2 bộ phận: Thân lư và hai quai xách. Toàn bộ lư bị gỉ mốc trắng, xanh và nâu, còn dính chút ít đất đỏ. Lư trầm có khả năng xuất xứ của người Hoa được người Chơro sử dụng. Niên đại khoảng từ trên 100 - 200 năm.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Chóp nón:</span></i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> số lượng 01, chất liệu đồng. Hình dáng kiểu chóp có bốn chân loe rộng ở dưới: bao gồm phần chóp liền ở trên và 4 chân hình trái tim chĩa ra 4 góc để ốp vào chóp nón lá.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img alt="" align=right width=263 height=406 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/cac-hien-vat-cua-dan-toc-thieu-so2632018_8311.jpg">Những hiện vật này được chôn trong các khu mộ vốn là nghĩa trang của người Chơro nằm trong lô cao su ở ấp Cây Xăng, xã Phú Túc, Định Quán vào những thập kỷ trước đây. Sau ngày giải phóng, khu nghĩa trang này bị san lấp giải tỏa, đồng bào Chơro không còn chôn cất người quá cố ở đây nữa. Khu vực này được chính quyền sở tại sử dụng làm khu dân cư, vì vậy, mặc dù đã quy tập di dời nhưng vẫn còn sót lại những phần mộ người Chơro ở trong các vườn rẫy trồng tiêu, cà phê, cao su của dân cư địa phương. Những người đi rà phế liệu đã tình cờ phát hiện ra những đồ đồng chôn cất tùy táng, còn xương cốt nếu gặp thì chỉ còn chút ít đã mục trắng lẫn vào với đất rất khó phân biệt.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 1.35pt 0pt 4.5pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Di vật chôn theo cũng rất phong phú, bao gồm đồ sinh hoạt gia đình đến nhạc cụ, trang sức và đồ thờ cúng như: nồi, mâm, ô trầu, </span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ố</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ng ngoáy, chóp nón, lư trầm, chiêng... Tất cả đồ vật phát hiện đều bằng đồng, ngoài ra còn có đồ nhôm, g</span><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ố</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">m sứ... là những loại chén, dĩa, ly, tách, chung trà... Có thể nói, vào nhiều thập kỷ trước đây, người Chơro đã có sự giao lưu văn hóa với người Việt, người Hoa, người Chăm trong sinh hoạt cộng đồng. Những đồ vật tùy táng rất da dạng, chúng là đồ dùng của người bản địa nhưng cũng có những đồ dùng vốn của người Việt như chóp nón, ô trầu, ống ngoáy, hay của người Hoa như lư trầm, chén dĩa gốm Trung Quốc...</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.5pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Những sưu tập di vật phát hiện ngày càng nhiều trên nhiều địa điểm càng khẳng định về tục tang ma chôn theo đồ tùy táng của các cộng đồng cư dân bản địa ở Đồng Nai và khu vực miền Đông Nam bộ vào những thế kỷ trước đây thể hiện bản sắc văn hóa riêng biệt của người Chơ ro ở Đồng Nai.</span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:31.5pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:31.5pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="color:#0000ff"><strong><i><span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đinh Nhài</span></i></strong></span></p>
<p><span style="color:#0000ff"><strong> </strong></span></p>
<p> </p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p><span style="color:#000000"> </span></p>
<p> </p>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 26/03/2018 3:05 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 723</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Mon, 26 Mar 2018 01:31:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Những biến đổi văn hóa phi vật thể của tộc người Xtiêng ở Đông Nam bộ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=65</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass40B8F6053943437199DB0D00D8BFA594><div class=ExternalClass26C68CFE8B164D848B7C4B4EB6434DB4>
<div class=ExternalClass84C6937692824837AE3EC741BBDB454C>
<div class=ExternalClass1238853FA086480FBCD4861F1B8BE575>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Trong các tiêu chí như là những đặc trưng cơ bản để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác là ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác tộc người, thì ngôn ngữ được coi là tiêu chí quan trọng để xác định tộc người. Văn hóa dù có nhiều biến đổi qua thời gian, nhưng có chức năng tạo cố kết dân tộc Xtiêng và phân biệt dân tộc họ với các dân tộc khác trong nhóm Môn - Khơme ở Nam Bộ thông qua các sinh hoạt lễ hội, đặc biệt là ngôn ngữ sử dụng.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Tộc người Xtiêng là cư dân bản địa cư trú tại Đông Nam Bộ, do sống xen kẽ lâu đời với người Việt, Khơ me, Chăm, Mạ, M’Nông, Kơho, nên trong ngôn ngữ của họ có khá nhiều từ ngữ gần gũi với ngôn ngữ của các dân tộc này. Giữa hai nhóm Xtiêng cũng hình thành hai phương ngữ là Xtiêng Bù Lơ và Xtiêng Bù Đek và số từ vựng dị biệt cũng lên tới 10%. Phương ngữ của nhóm Xtiêng Bù Đek chịu khá nhiều ảnh hưởng của ngôn ngữ Khơ me do quá trình cộng cư lâu dài của Xtiêng và Khơme bên nhau; các từ chỉ khái niệm thường là vay mượn ở người Khơme và hiện tượng song ngữ Xtiêng - Việt ngày nay cũng trở nên rất phổ biến.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Do tác động của quá trình giao lưu văn hóa với các tộc người sống xung quanh, nên cấu trúc ngữ pháp của tiếng Xtiêng khá giống với tiếng Việt, tiếng Khơ me và một số tiếng các dân tộc khác trong nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me. Đây có lẽ là một điều thường thấy trong tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc sống cộng cư bên nhau trong thời gian dài, đặc biệt là các tộc người thiểu số chịu ảnh hưởng từ các dân tộc đông hơn.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Cho tới nay, chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy người Xtiêng đã có chữ viết. Từ khi thực dân Pháp thống trị Việt Nam, một số học giả Pháp mới phiên âm La tinh hóa tiếng Xtiêng để truyền bá Thiên chúa giáo, nhưng thứ chữ này không phổ biến trong đồng bào. Các cha cố người Pháp như Foutaine, H.Azéma v.v:.. đã nhiều năm tới truyền đạo cho người Xtiêng ở Đông Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Nghiên cứu của người Mỹ không có nhiều cái mới so với các học giả người Pháp, ngoại trừ ngôn ngữ và nặng về mục đích chính trị, phục vụ cho quân đội Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cho đến nay phương án Latinh hóa tiếng Xtiêng để tạo cho họ một loại chữ viết thích hợp vẫn chưa thu được kết quả cụ thể nào.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Các lễ hội người Xtiêng gắn liền với văn hóa truyền thống và tín ngưỡng. Trong một năm, họ có nhiều lễ hội liên quan đến cộng đồng hay chu kỳ đời người, trong đó lễ đâm trâu vẫn được coi quan trọng và là lớn nhất. Lễ này được tổ chức mừng mùa màng bội thu khi gia đình thu hoạch 100 gùi lúa trở lên, gùi có tên hay mừng làm ăn phát đạt.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Tín ngưỡng của người Xtiêng là thờ đa thần như thần rừng, thần đất, thần núi. Bên cạnh ông trời (Yang) là thần lớn nhất, vị thần được người Xtiêng quý trọng nhất là thần lúa. Nghi lễ cúng thần lúa của người Xtiêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng tạo sự gắn bó mật thiết giữa con người với hồn lúa, giữa con người với sông suối và giữa con người với con người. Hồn lúa được tập trung vào một loại lúa canh tác truyền thống và được trồng riêng ở trên một mảnh đất thiêng. Thần Lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Lễ cúng thần lúa do một gia đình tổ chức, cho dù tốn kém đến đâu nhưng gia đình đó mời tất cả cộng đồng về dự hội ăn mừng được mùa lúa bội thu, đánh cồng chiêng mời tất cả các vị thần, các hồn lúa ở rẫy khác của cộng đồng về dự. Nghi lễ rước hồn lúa về kho được coi trọng, đã thể hiện nhiều giá trị nhân văn của người Xtiêng, nhưng cũng gắn với nhiều điều cấm kỵ.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Luật tục cũng như tập quán pháp của Xtiêng là yếu tố giúp liên kết những quan hệ xã hội để hình thành hệ thống xã hội tộc người và vận hành nó. Chính luật tục Xtiêng đã quy định những quan hệ ứng xử, và tư cách đạo đức của cá nhân và cộng đồng.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Xâm phạm các điều cấm kỵ và phỉ báng thẩn linh (<i>lah cang rai)</i> là tội bị phạt vạ nặng theo luật tục Xtiêng như cấm người lạ vào nghĩa địa, vào <i>poh</i> có người chết, hoặc vào <i>poh</i> mới dọn về. Làng Xtiêng vừa mới lập cấm tiệt người lạ vào, với dấu hiệu chăng sợi dây thong có cuốn bó lá tươi (giống như tục lệ của nhiều dân tộc khác sinh sống ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên). Những người phạm tội <i>lah cang rai </i>sẽ phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân, hoặc làm lễ hiến tế để thần linh giảm bớt thịnh nộ.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Đối với người Xtiêng thì mọi vi phạm, dù nặng hay nhẹ đều có hình phạt, chủ yếu bằng hình thức kinh tế - trừ trường hợp người bị nghi ngờ có <i>Malai</i>. Theo luật tục Xtiêng, người bị tình nghi có Malai- chuyên mang lại chết chóc, đau ốm cho người khác trong <i>poh</i>, lập tức sẽ bị cộng đồng tra tấn, ép buộc phải nhận và xử tội bằng cách đổ dung dịch chì đun nóng chảy vào lòng bàn tay nạn nhân; nếu như bàn tay nạn nhân phát ra tiếng nổ nhỏ thì người đó đích thực là Malai và bị làng xử chết chém. Thân nhân của người bị nghi là Malai cũng bị đuổi khỏi cộng đồng Xtiêng, bị bán ở nơi xa làm <i>kondek. </i>Malai là hủ tục của tộc người Xtiêng ở Đông Nam Bộ và các tộc người khác ở Trường Sơn – Tây Nguyên ngày nay dần đi vào dĩ vãng, dĩ nhiên là nó cần phải bị lên án và xóa bỏ đi, vì quá tàn ác và phản khoa học.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Ngoại trừ hủ tục Malai, thì nhìn chung luật tục của Xtiêng quy định những quan hệ xã hội và cũng đã giúp duy trì một trật tự xã hội và ổn định cộng đồng. Việc thực hiện các tín ngưỡng tôn giáo mang tính cộng đồng phụ thuộc nhiều vào các <i>poh</i> hay <i>mpol</i> của Xtiêng qua những người đứng đầu <i>(tom poh)</i> hay phụ tá <i>(tom yau).</i></font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Người Xtiêng ưa thích âm nhạc, nhạc cụ thường thấy nhất là các bộ cồng, chiêng; chiêng 6 chiếc, cồng thì 5 cái. Cồng (goong), chiêng (ching) và nhạc cụ đặc sắc và tiêu biểu nhất trong các loại nhạc cụ của người Xtiêng. Không chỉ được xem là tài sản quan trọng vì đó là vật có giá trị kinh tế cao, có thể đem đi mua bán, trao đổi, làm của cải trong cưới hỏi, làm đồ vật trang trí trong gia đình. Nghệ thuật cồng, chiêng của họ có nhiều nét chung với nghệ thuật cồng, chiêng của các dân tộc Tây Nguyên khác, nhưng vẫn giữ được sự độc đáo, truyền thống trong các <i>sách</i> của tộc người Xtiêng. Chiêng của người Xtiêng không được gõ ở ngoài nhà, trừ ngày lễ đâm trâu. Khi hòa tấu mỗi người sử dụng một chiếc chiêng.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Ngoài chiêng, các nhạc cụ khác như cồng, kèn bầu (m’buôt), sáo ống (dênh dut), đàn môi (N’tôn), sáo tiêu (ta lét) cũng được người Xtiêng ưa thích. Họ sử dụng chúng trong các hình thức biểu diễn như hát kể (Tâm pơt), tình ca (Nao lan), hay trường ca (O ktoong). Những loại hình văn hóa này không chỉ thể hiện sự sáng tạo của cộng đồng dân tộc, một giá trị tinh thần độc đáo; quan trọng hơn chúng mang ý nghĩa nhân văn. Người Xtiêng sử dụng loại hình văn hóa để làm phương tiện giao lưu giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, con người với thần linh trong các hoạt động lễ hội.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Cùng với quá trình cố kết nội bộ là quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá và mối quan hệ văn hoá giữa Xtiêng với các tộc người khác như Khơme, Mạ, Việt, Chăm và là kết quả tổng hợp của các mối quan hệ khác như quan hệ về ngôn ngữ, quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội và quan hệ về địa bàn cư trú của họ. Sử quán triều Nguyễn chép thổ dân (Xtiêng, Mạ) thuộc 81 sách có tới 6 họ ở vùng núi thuộc đất Đồng Nai - Gia Định; <i>Điểu</i> là họ phổ biến khắp vùng của người Xtiêng. </font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Song tộc là nét độc đáo trong hệ thống thân tộc người Xtiêng trong các <i>poh</i>, đặc biệt là tổ chức xã hội của hai nhóm chính là Bù Lơ và Bù Đek. Người Bù Lơ sống trong <i>poh</i> theo một nhóm gia đình thân thuộc (giống như người Mạ, Cơ ho, Giẻ Triêng), ngược lại Bù Đek sống theo nhiều nhóm gia đình thân thuộc (giống nhiều tộc người ở Trường Sơn - Tây Nguyên), dù cả hai nhóm có đặc điểm tên gọi bắt đầu từ <i>Bù</i> (nghĩa là người). Người Bù Đek ở thành nhiều nhà dài và trong từng cụm gọi là <i>nguol</i>, nhưng Bù Lơ thường sống trong 1-2 nhà dài. Người Bù Lơ sống ở vùng cao, làm rẫy và có quan hệ thân thuộc theo chế độ phụ hệ, trong khi Bù Đek là người ở vùng thấp, làm ruộng nước lại theo chế độ mẫu hệ.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-indent:14pt;margin:0cm 2pt 0pt 1pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="font-size:medium"><span lang=EN-US><font face="Times New Roman">Trải qua lịch sử, trạng thái cố kết tộc người và ý thức tự giác tộc người được củng cố trong thành phần tộc người Xtiêng. Cuộc sống của người Xtiêng đang có nhiều biến chuyển so với trước kia. Theo sự biến đổi của thời gian, hiện nay, người Xtiêng dần có cuộc sống định canh định cư. Tiếp xúc với các dân tộc khác như Mạ, Việt, Khơme và do tác động của điều kiện môi trường sống hiện nay, một số sinh hoạt văn hóa trước đây của người Xtiêng đã có những thay đổi về vật chất cũng như về tinh thần.</font></span></span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:medium"> </span><em><span style="font-size:medium">Hồng Hạnh</span></em></p>
<p> </p>
<p><span style="font-size:medium"> </span></p>
<p><span style="font-size:medium"> </span></p>
<p><span style="font-size:medium"> </span></p>
<p> </p>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 05/06/2018 2:20 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.744</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 05 Jun 2018 07:26:31 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=65</guid>
    </item>
    <item>
      <title>LỄ HỘI XUỐNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI KHMER</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=56</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA523351BA2274D6B89A1C281F019F1A1><div class=ExternalClassEEDFCA8719CD49BB91DCD75C84F50F52>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';background:white;font-size:14pt">Dân tộc Khmer ở Việt Nam có khoảng 1,3 triệu người, sống tập trung ở tại các tỉnh Nam Bộ như Trà Vinh, Bình Phước, Sóc Trăng, Kiên Giang, Đồng Nai,…và một số ít từ Campuchia. Cuộc sống của  người Khmer gắn liền với nghề canh tác lúa nước và nhiều nghề thủ công. Dân tộc Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ và có kiến trúc chùa tháp đặc sắc. Các lễ hội lớn trong năm là dịp để đồng bào Khmer Nam bộ thể hiện những nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc của dân tộc mình. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trong đời sống tinh thần của họ, ngoài những lễ hội Phật giáo, người Khmer ở đây còn tổ chức nhiều lễ hội dân gian mang đậm nét truyền thống của cư dân nông nghiệp như lễ hội phá bàu, lễ hội cúng lúa mới, lễ hội thả diều, lễ hội xuống đồng. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Vào tháng 4 âm lịch hàng năm, người Khmer tổ chức làm lễ xuống đồng, khai trương một mùa vụ mới. Đây là một nghi lễ quan trọng của cộng đồng nhằm cầu xin thần linh giúp đỡ, phù trợ cho một vụ mùa bội thu. Tất cả các hộ gia đình người Khmer làm lúa nước đều thực hiện nghi lễ này một cách hết sức trang nghiêm. Trong tiềm thức của người Khmer, thần đất thần nước là rất quan trọng trong tác lúa nước của họ. Lễ hội xuống đồng tiếng Khmer gọi là <i>Sen Đây S’re</i>, hay còn được gọi là lễ cúng ruộng, lễ cúng xuống giống. Cùng với các lễ hội dân gian khác, lễ hội xuống đồng là một trong những lễ hội truyền thống sản xuất nông nghiệp của người Khmer.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Khi những cơn mưa đầu mùa xuất hiện, người Khmer chuẩn bị sửa sang, chặt cây làm cày, xỏ mũi trâu, tiến hành xử lý đất, ngâm giống mạ, chuẩn bị cấy. Thời điểm này, nghi lễ xuống đồng được tiến hành.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Lễ hội xuống đồng của cộng đồng người Khmer diễn ra trong khoảng một tuần đầu tháng 4. Trong thời gian này, tất cả cac hộ gia đình người Khmer đều lần lượt thực hiện nghi lễ. Thời điểm tổ chức lễ hội được lựa chọn theo ngày sinh của chủ ruộng. Theo quan niệm của người Khmer, khi được sinh ra vào ngày nào thì đó là ngày tốt của người đó, ngày tốt này họ lấy theo ngày trong tuần (như sinh vào ngày thứ ba thì họ sẽ chọn thứ ba để tiến hành). Trong gia đình, ngày của người chồng sẽ được chọn. Tuy nhiên, nếu ba năm, làm ăn mùa màng không tốt, họ sẽ lấy ngày sinh của  người vợ. Do tập tục chọn ngày sinh trong tuần để tổ chức lễ hội nên trong mùa lễ hội sẽ có nhiều gia đình cùng tổ chức lễ cúng xuống đồng trong một ngày.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Việc các gia đình tổ chức nghi lễ xuống đồng trước hay sau không tùy thuộc vào vị thế xã hội của họ ở trong làng mà tùy thuộc vào ngày tốt trong tuần đã được chọn và công việc chuẩn bị mạ được hoàn tất.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trước khi tổ chức lễ hội, chủ ruộng mời một người lớn tuổi trong sóc có khả năng thực hiện các nghi thức trong lễ xuống đồng. Mời già làng đến dự để chứng giám việc chủ nhà mời thần đất, thần nước, ông bà của họ cúng ruộng. Gia chủ cũng mời các chủ ruộng bên cạnh ruộng của mình cùng tham dự nghi lễ xuống đồng của gia đình. Lễ vật chuẩn bị cho lễ xuống đồng bao giờ cũng có một con gà luộc, trầu cau, cơm nếp, rượu. Thông thường, sau ba năm các gia đình sẽ tiến hành cúng heo, tùy theo lời hứa của chủ ruộng với thần linh.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nghi lễ xuống đồng của người Khmer trải qua rất nhiều công đoạn như: chọn giống, chọn đất, làm đất gieo mạ, làm đất cấy, làm nhà chòi, chuẩn bị lễ vật để tiến hành lễ hội.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trước ngày lễ xuống đồng, mỗi gia đình chuẩn bị làm nhà chòi tại thửa ruộng của mình để đồ dùng sinh hoạt, các vật dụng nông nghiệp, nghỉ ngơi tại ruộng, trông nom hoa màu… Thường nhà chòi là một dạng nhà sàn, làm bằng chất liệu gỗ, trẻ, mái lợp lá hoặc cỏ tranh, diện tích khoảng 9m<sup>2</sup>, trong khuôn viên ruộng. Khu vực nhà chòi và ruộng lúa cũng chính là địa điểm tổ chức lễ hội của từng gia đình.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Việc chuẩn bị mạ được người dân chuẩn bị kỹ lưỡng bao gồm nhiều công đoạn. Lựa chọn giống lúa để gieo mạ là bước đầu tiên trong quy trình cấy lúa của người Khmer. Lúa của người Khmer có nhiều loại như giống 9 tháng là lúa Prây sua (con voi đứng), cơm dẻo, thơm ngon; giống 6 tháng là lúa S’râu Cò mô (loại gạo cứng); lúa K’Tơ Nốt (gạo dẻo thơm), lúa Kiến Vàng S’mucproong (gạo dẻo thơm) và lúa S’Râu Nớp (lúa nếp)…</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Quy trình kỹ thuật làm đất gieo mạ và đất cấy của người Khmer rất khoa học và chặt chẽ từ việc cày lật úp đất phơi cho đất ải, tháo nước vào ruộng ủ đất, khoảng một tuần sau khi đất đã mục, họ tiến hành bừa cho phẳng, làm bờ, xã nước vào đầy ruộng, gieo mạ, chờ làm lễ xuống đồng xong thì tiến hành cấy lúa.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Việc ngâm mạ và gieo mạ được tiến hành theo cách truyền thống và đúng kỹ thuật của người Khmer. Các gia đình lựa chọn thời gian ngâm và gieo mạ sao cho phù hợp với thời điểm thực hiện mùa vụ, thường từ ngày ngâm giống cho đến khi gieo khoảng ba ngày.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đến ngày làm lễ, người Khmer chuẩn bị lễ vật để dâng cúng thần linh. Thông thường những sản vật không thể thiếu nghi lễ xuống đồng như: heo, gà, xôi, trầu cau, rượu, bông cúng, hương (nhang),… Buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa rạng, các gia đình đã thức giấc để chuẩn bị lễ vật cúng thần. Nam giới, thanh niên phụ giết heo thần. Phụ nữ chuẩn bị nấu cơm nếp, luộc gà, tiêm trầu cau, nhang đèn, trang trí mâm lễ và các vật dụng phục vụ cho buổi lễ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Thời gian cúng bao giờ cũng vào buổi sáng trước 12 giờ trưa. Các gia đình cúng trùng ngày sẽ chủ động trao đổi sắp xếp thời gian cúng sao cho lệch giờ nhau trong buổi sáng hôm đó, với mục đích để cho già làng và mọi người có thể tham dự, chứng giám nghi lễ cúng của gia đình mình được đầy đủ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trong quá trình cúng lễ, nghi thức cột mạ là nghi lễ đầu tiên. Chủ lễ tiến hành nhổ mạ trong phạm vi thửa ruộng của gia đình theo các nghi thức truyền thống. Mỗi gia đình nhổ hai bó mạ và cột lại như thường lệ, sau đó đưa hai bó mạ đến bàn thờ làm lễ cột mạ. Họ dùng sợi dây tơ màu trắng dài vừa đủ để cột hai bó mạ vào nhau, sau đó đưa lên mâm lễ tiến hành lễ cúng thần linh. Mục đích của nghi lễ cột mạ là để thần linh chứng giám, cầu cho mạ giống của họ được tươi tốt, mùa màng bội thu, gia đình mạnh khỏe.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Già làng là người chứng giám toàn bộ nghi lễ, chỉ có những người đàn ông chủ gia đình mới được lên chòi làm lễ cúng thần: thần đất thần nước, ông bà tổ tiên: Gia chủ bày các lễ vật lên các mâm đã chuẩn bị sẵn ở trong các chòi, sau đó tiến hành lễ cúng thần linh. Gia chủ là người khấn vài sau đó lấy ý kiến của mọi người, cùng nhau hô vang như một lời chúc, một lời khấn cầu chuyển đến thần linh để chứng giám lòng thành và sự đoàn kết nhất trí của họ. Thủ tục khấn như thế diễn ra ba lần thì kết thúc.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sau khi cúng ở trên chòi xong, họ tiến hành cúng cô hồn: Các gia đình sẽ lấy bốn phần lễ vật gồm xôi, thịt, cơm nếp… bỏ vào trong bốn chiếc chuyền bằng lá cây đã được chuẩn bị sẵn, hoặc gói bằng lá chuối tươi, sau đó mang đặt tại bốn góc của thửa ruộng, thắp nhang cúng các vong linh, cô hồn chứng giá, để gia đình họ yên ổn làm ăn, mùa màng được tươi tốt.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Khi các nghi thức cúng thần linh được hoàn tất, hai bó mạ được sử dụng để cúng thần linh sẽ được người dân lấy xuống để cấy trước, khi cấy hết mới sử dụng các bó mạ khác để tiếp tục cấy lúa. Thông thường, người ta chỉ cấy hết hai bó mạ cúng để lấy ngày, mọi người vui chơi ca hát mừng cho cấy lúa của họ đã được thần linh chứng giám. Ngày hôm sau, hoặc hôm sau nữa, họ mới tiến hành cấy tập trung.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Số lượng người tham gia cấy của mỗi gia đình tùy thuộc vào lượng mà và diện tích ruộng, thông thường người cấy chủ yếu là phụ nữ. Người Khmer có tục vần công, đổi công. Khi gia đình có việc, sẽ nhờ các gia đình khác đến giúp, họ sẽ ghi công lại, đến khi các gia đình khác tổ chức cấy, họ sẽ đi giúp lại.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Khi tiến hành cấy, người Khmer có quan niệm là hướng đông – hướng mặt trời mọc, đó là sự khởi đầu của một ngày mới, khởi đầu mùa vụ của quy trình cây lúa sinh trưởng. Đồng thời, họ cầu mong cây lúa của họ lớn nhanh như mặt trời mọc. Vì vậy, khi cấy, họ phải bắt đầu từ phần đất ở phía đông để cấy trước, mặt người cấy luôn phải hướng về phía mặt trời mọc trong suốt quá trình cấy lúa.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sau khi thực hiện xong lễ cúng thần linh, các gia đình sẽ cùng nhau tham gia giao lưu tại chỗ. Thông thường, những người đàn ông trong gia đình cùng đàn ông của các ruộng hàng xóm cùng với già làng giao lưu, ăn uống những lễ vật mà họ đã cúng dâng thần linh. Cuộc nhậu có thể kéo dài hay ngắn tùy theo gia chủ nhưng thông thường phải đến chiều tối, khi bình đã khô rượu.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Lễ hội xuống đồng là lễ hội truyền thống của người Khmer mang tính cộng đồng cao, thể hiện giá trị văn hóa tinh thần của cư dân nông nghiệp. Qua việc thực hiện lễ hội, các giá trị văn hóa của cư dân được bảo tồn và phát huy giá trị. Các giá trị tiêu biểu về văn hóa tinh thần của cộng đồng được thể hiện qua việc duy trì tục vần công (đổi công) trong cộng đồng, duy trì các nghi thức nghi lễ truyền thống, việc trao đổi kinh nghiệm về hoạt động sản xuất nông nghiệp… Từ đó tạo ra sự đoàn kết gắn bó, giúp đỡ nhau trong quá trình sản xuất và trong đời sống hàng ngày hướng đến một cuộc sống ấm no, cộng đồng ổn định, xã hội văn minh.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nghi lễ xuống đồng của người Khmer vẫn còn được cộng đồng lưu giữ, cho dù phương thức canh tác có thay đổi, trồng lúa hai vụ hay ba vụ, nhưng mùa vụ đầu tiên vào tháng 4 âm lịch hàng năm, họ vẫn tiến hành nghi lễ xuống đồng. Tuy nhiên, các nghi thức cúng tế như cột mạ, làm nhà chòi, nghi thức cấy lúa… đã không còn nữa. Do sự biến đổi về phương thức canh tác, các nghi thức truyền thống của lễ hội xuống đồng người Khmer cũng đang dần bị mai một.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:right;line-height:18pt;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:13pt">_ Thanh Vân_</span></i></b></span></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/03/2018 4:15 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 734</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Thu, 22 Mar 2018 09:19:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=56</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nghệ thuật múa truyền thống trong lễ hội của tộc người Chơ ro ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=58</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassEDAA0F5CA7CA4E0B8E608547AFFF2BAC><div class=ExternalClassD135F03ED82E4510A779911EC8EE4FE0>
<div class=ExternalClassD6CAF34B39C8420EA7EB2C49415C3173>
<div class=ExternalClass601122636E25477F9518240885822E85>
<div class=ExternalClass5A0F04BA8A45467AAA908A461E82D75C>
<div class=ExternalClass46F29EBB72914EDFAB003B9CDF53B8E9>
<div class=ExternalClass68E08A0F5D1643E3BCFA960BC991354B>
<div class=ExternalClassB0BCA322AF8B4493B7317DFA5F80B74E>
<p><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có hơn 40 dân tộc anh em cùng nhau sinh sống. Trong đó người Chơ ro là cư dân có mặt sớm nhất trên vùng đất Đồng Nai và là tộc người có số dân cư đông thứ tư sau người Hoa, người Tày, người Nùng sống ở Đồng Nai.</span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Tộc danh của người Chơ ro có nhiều tên gọi khác như: Châu ro, Châuro, Chrau, Chroo, Jro, Ro, To,... Tộc người Chơ ro là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Đông Dương. Xưa kia, các thế hệ người Chơ ro đã phải trải qua nhiều biến động lớn. Khu vực cư trú là nơi tranh chấp triền miên của các tộc người láng giềng. Họ buộc phải di cư liên tục, cuộc sống không ổn định, đời sống gặp muôn vàn khó khăn. Đặc biệt, khi thực dân Pháp lập các đồn điền cao su, người Chơ ro phải di chuyển địa bàn cư trú vào trong rừng sâu, cách biệt môi trường giao lưu văn hóa với các dân tộc khác. Đời sống kinh tế, giao lưu văn hóa xã hội vô cùng khó khăn. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thanh niên Chơ ro bị bắt đi lính, đi tải đạn, tải lương thực, địa bàn cư trú bị thu hẹp, dân số càng giảm dần. Mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm, tộc người Chơ ro vẫn ra sức giữ gìn văn hóa truyền thống phong phú, độc đáo của cộng đồng dân tộc mình, góp phần cùng các tộc người anh em khác tạo nên bản sắc văn hóa Đồng Nai hết sức đa dạng, đặc trưng.</span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Hiện nay, toàn tỉnh Đồng Nai có 3.467 hộ người Chơ ro sinh sống, với nhân khẩu là 17.054 người (số liệu Ban Dân tộc tỉnh, tháng 6/2009). Người Chơ ro tập trung chủ yếu ở các huyện, thị: Long Khánh (xã Xuân Vinh, xã Xuân Bình, xã Bàu Trâm, xã Hàng Gòn) ; huyện Xuân Lộc (xã Xuân Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ); huyện Định Quán (xã Túc Trưng); huyện Vĩnh Cửu (xã Phú Lý); huyện Long Thành (xã Phước Bình); huyện Thống Nhất (xã Xuân Lộc, xã Xuân Thiện). Riêng ở thành phố Biên Hòa, hiện nay có một số ít người Chơ ro đến sinh sống, chủ yếu là thanh niên trong độ tuổi đi học hoặc làm công nhân tại các khu công nghiệp. </span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><img alt="" align=left width=417 height=330 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/1112832018_121453.jpg">Người Chơ ro có đời sống văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng. Trong đó, múa truyền thống trong các lễ hội của tộc người Chơ ro là một trong những đặc sắc văn nghệ dân gian còn được lưu giữ. Và được coi là sản phẩm nghệ thuật sáng tạo của cộng đồng người Chơ ro ở Đồng Nai. Các động tác múa phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, mang sắc thái môi trường sinh sống, thể hiện các mối quan hệ, những tâm tư tình cảm cộng đồng, phong tục, tập quán hay tín ngưỡng của đồng bào. </span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Tuy vậy, theo tác giả Nguyễn Thành Đức trong cuốn &quot;<i>Múa dân gian dân tộc người Mạ, Chơ ro, Stiêng vùng Đông Nam Bộ</i>&quot; nhận xét múa của tộc người Chơ ro chỉ ở giao đoạn &quot;<i>làm cho phù hợp quy luật vận động của cơ thể và tâm sinh lý tự nhiên của nam nữ tộc người...., chưa thấy thể loại với tư cách là một tổ chức của hệ thống biểu cảm bằng hình tượng nghệ thuật múa, theo một cấu trúc tác phẩm hoàn chỉnh...</i>&quot;</span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Múa dân gian của đồng bào được thể hiện khi đánh chiêng trong các lễ hội, trong các tín ngưỡng của các thầy cúng, bà bóng,.. với các thao tác đơn giản. Múa của người Chơ ro ở Đồng Nai nói riêng và các tộc người bản địa ở Đông Nam Bộ nói chung có 5 hình thái cơ bản. Đó là: Những thao tác trong quá trình lao động, sản xuất ra của cải vật chất, để tồn tại và phát triển gia đình, dòng tộc và cộng đồng. Mô phỏng những biểu hiện hành vi, trạng thái chim muông, dã thú nhằm khẳng định thành quả săn bắt chúng. Những thao tác múa các loại biểu hiện mối quan hệ giữa thần linh và thế giới trần thế trong tín ngưỡng dân gian do thầy cúng, bà bóng thực hiện. Sự súc động, hưng phấn của người múa trong các lễ hội. Sự giao lưu văn hóa với các tộc người láng giềng.</span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Người Chơ ro có rất nhiều điệu múa dân gian, được phân loại như sau: </span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><i>Múa sinh hoạt</i>: là loại hình múa gắn bó với văn hóa cồng chiêng và bắt nguồn từ sinh hoạt diễn tấu cồng chiêng trong những dịp lễ gia đình, cộng đồng. Trong múa sinh hoạt, những điệu múa với lục lạc (vòng tay làm bằng đồng, gắn những quả nhạc có hột phía trong khi rung lắc tạo thành âm thanh) mang tính đặc trưng của người Chơ ro. Trong múa sinh hoạt có các điệu múa như: múa đi hội, múa gặp gỡ, múa dâng bánh, múa đánh cồng A, múa đánh trống, múa chũm chọe, múa chim bay.</span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><i>Múa lao động</i>: loại hình múa này dựa trên những thao tác trong lao động với các công cụ. Các điệu múa được ước lệ, cách điệu cụ thể như: múa dao, múa chà gạt, múa chọc lỗ tra hạt, múa bắt cá, múa xúc tép, múa nỏ, múa đeo gùi, múa sàng gạo, múa giã gạo.</span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><i>Múa tín ngưỡng</i>: Là loại hình múa thể hiện trong các sinh hoạt tín ngưỡng, đặc biệt trong các lễ hội cộng đồng. Loại hình múa tín ngưỡng thường do các bà bóng hay thầy cúng thể hiện. Các điệu múa như: mừng lúa mới, múa siêu thoát, múa bóng, múa đội bát, múa cúng thần, múa lễ tạ ơn,...</span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><img alt="" align=right width=418 height=263 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/111111111111112832018_121526.jpg">Trong nghệ thuật múa của người Chơ ro, âm nhạc đóng một vai trò quan trọng. Và nhạc cụ được sử dụng trong các bài múa truyền thống của tộc người Chơ ro vô cùng phong phú và đa dạng. Trong múa tín ngưỡng, người múa sử dụng một số loại trống, đàn tà ló, chũm chọe hay quả lục lạc hòa tấu trong các cách thức thực hiện của thầy cúng, bà bóng. Trong múa sinh hoạt, người múa thường đệm thêm những tiếng hú, hô, hét hòa trong diễn tấu của các loại nhạc cụ cồng, chiêng hay kèn bầu. Dàn cồng của người Chơ ro có hai loại, loại 6 chiếc và loại 7 chiếc, tùy theo điều kiện của từng địa phương, nhưng chủ yếu là 6 chiếc. </span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Trong các bài múa truyền thống của người Chơ ro không thể không kể đến những bộ trang phục truyền thống đặc trưng. Trong đó, nữ mặc váy (váy quấn), đeo yếm (yếm bốn góc, có 4 dây vải buộc ra sau lưng và cổ), tóc được búi gọn và cài trâm (cây trâm làm bằng xương) có hai dây hạt cường buộc ở búi tóc. Đeo dây truyền bằng hạt cườm ở cổ, với nhiều vòng dài ngắn khác nhau. Váy của nữ được gắn đồng tiền bằng bạc và những quả lục lạc ở gấu váy vầ đeo ở cổ chân, cổ tay. Nam đóng khố bằng vải thổ cẩm với nhiều màu sắc khác nhau.</span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">Nghệ thuật múa của người Chơ ro được kế thừa, phát triển từ những đặc trưng văn hóa, đời sống lao động và những bản sắc tộc người nên rất cần được bảo tồn và lưu giữ. Không chỉ vậy múa truyền thống của người Chơ ro còn mang nhiều giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa, giá trị xã hội sâu sắc. Từ cuộc sống lao động, sinh hoạt hằng ngày, hay những tín ngưỡng văn hóa người Chơ ro đã linh hoạt lồng ghép vào trong các điệu múa làm phong phú hơn trong đời sống sinh hoạt của đồng bào. Góp những mảng màu tươi sáng trong bức tranh về văn hóa của dân tộc Việt Nam. </span></span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:right;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><em><strong><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><span style="font-family:Times New Roman">Đào Thanh</span></span></span></strong></em></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:Times New Roman"><span style="font-size:13pt">
<div style="text-align:right;margin:0in 0in 0pt" align=right> </div>
</span></span><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman">
<div style="text-align:right;margin:0in 0in 0pt" align=right> </div>
</span></span><span style="font-family:Times New Roman"><span style="font-size:13pt">
<div style="text-align:right;margin:0in 0in 0pt" align=right><span style="font-size:large"> </span></div>
</span></span></div>
<span style="font-size:large">
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt">
<div style="text-align:left;margin:0in 0in 0pt"> <img width=620 height=17 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/ngang2832018_221820.jpg"></div>
</div>
<p><span style="font-family:Times New Roman"> </span></p>
</span>
<p> </p>
<p><span style="font-size:large"><span style="font-family:Times New Roman"><span id=1522214070809E style="display:none"> </span></span></span></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 28/03/2018 12:10 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 968</div>
]]></description>
      <author>ntsen</author>
      <pubDate>Wed, 28 Mar 2018 05:15:38 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=58</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Một số công cụ sản xuất của người Sán Dìu ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=54</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass3E511B2234C2459B9EDAD7CE4567E83D><div class=ExternalClass8DD292A1D2834AA38D10669F17523AC7>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đồng Nai là một vùng đất cổ màu mỡ, người thưa, từ thế kỷ XVI – XVII, Đồng Nai đã thu hút lưu dân Việt từ miền ngoài vào lập nghiệp. Họ cùng và cư dân bản địa như Chơro, Châu Mạ, Xtiêng, Kơho… khai khẩn đất hoang xây dựng làng ấp. Đồng Nai ngày càng tiếp nhận thêm lưu dân người Hoa, những dân tộc di cư như: Chăm, Nùng, Mường, Thái… và Sán Dìu cũng là một dân tộc có nét văn hóa đặc sắc riêng cùng đến cộng cư, chính sự giao thoa đan xen dung hợp văn hóa trong các dân tộc đã làm nên vùng đất Đồng Nai lắng đọng những giá trị văn hóa truyền thống</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Người Sán Dìu có nguồn gốc từ Quảng Đông (Trung Quốc), di cư vào Việt Nam khoảng thế kỷ XVII, phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc nước ta như: Quảng Ninh, Hải Dương, Tuyên Quang, Thái Nguyên... Sau năm 1954, người Sán Dìu di cư vào Đồng Nai định cư ở các huyện Định Quán, Tân Phú, Trảng Bom, Thống Nhất... người Sán Dìu ở Đồng Nai hiện nay khoảng gần 1.000 người. Ở vùng đất mới, người Sán Dìu mang theo truyền thống văn hóa như: sinh hoạt sản xuất, lễ hội, cưới hỏi, tang ma, tín ngưỡng, tôn giáo... Cùng với sự giao lưu văn hóa với các dân tộc đã tạo nên những nét văn hóa mới của người Sán Dìu thêm đa sắc nhưng cũng rất riêng biệt.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"> Người Sán Dìu sống thành từng làng, từng xóm dưới chân đồi, hay trên các con gò thấp bên cạnh các cánh đồng, lưng quay vào rừng, mặt nhìn xuống các cánh đồng, xung quanh làng có lũy tre bao bọc chẳng khác gì làng xóm người Việt. Đường đi lối lại trong làng rộng rãi, phong quang sạch sẽ, nhưng hằn đầy những vết xe quệt. Những dấu hằn ấy như một đặc điểm để phân biệt làng người Sán Dìu với làng người Việt cùng địa phương. Cách bố trí nhà cửa, vườn tược trong khuôn viên đã theo công thức V.A.C (vườn – ao – chuồng) như người dân tộc Việt.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Truyền thống kinh tế người Sán Dìu là nông nghiệp, canh tác trên những địa hình bán sơn địa. Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, có phần nương, soi, bãi. Thêm vào đó còn có chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, nổi bật là nghề đan lát rất điêu luyện và thuần thục. Trình độ canh tác của họ đã khá cao không khác gì so với dân tộc Tày – Nùng và Kinh. Họ biết sử dụng nhiều công cụ sản xuất có năng suất cao. Từ cách sử dụng cái cày, cái bừa đôi, cho đến cái hái, cái quạt thóc, con lăn để nghiền đất, chiếc xe quệt để vận tải… đều thể hiện tính sáng tạo cao. Những nghề thủ công truyền thống như đan lát, may vá, rèn đúc chỉ mang tính nhỏ lẻ, tự cấp, tự túc bởi họ tạo ra không nhằm mục đích buôn bán. Và những sản phẩm đó do chính các thành viên trong mỗi gia đình làm lấy, chẳng hạn trang phục do người phụ nữ, công cụ lao động rèn đúc do nam giới đảm nhận, hay như đan lát thì cả nam giới và phụ nữ đều có thể làm được. Trong các nghề đó, đan lát là phổ biến hơn cả, các vật dụng như thúng, nia, lồng gà, chũm bắt ếch... phục vụ mọi nhu cầu trong đời sống sinh hoạt sản xuất như: xúc đựng nông sản, chăn nuôi, đánh bắt... Nhiều vật dụng tuy mang tính học hỏi về kiểu dáng, loại hình, nhưng về kỹ thuật và đặc điểm mang đậm nét riêng của dân tộc này.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Để tìm hiểu nét tiêu biểu đặc trưng của một số nông – ngư cụ dùng trong hoạt động sản xuất ta hãy điểm qua vài vật dụng độc đáo và kỹ thuật tạo ra các vật dụng này của người Sán Dìu ở Đồng Nai. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Nia sàng sảy lúa gạo là một nông cụ dùng trong đựng phơi hay sàng sảy nông sản là nia sàng sảy lúa gạo. Về kiểu dáng không khác nhiều so với nia của các dân tộc anh em khác, nhưng về kỹ thuật đan lát lại có sự khác biệt khá rõ. Nia thường được đan lát với một kỹ thuật gần như chung nhất là kiểu đan lóng nia, tức là người đan theo qui định “cất hai, áp năm”. Đây la kiểu đan khó, bởi người thợ phải đan sao cho nan dọc sẽ nổi lên dài và rõ, còn hai nan kép nổi lên ngắn và nhỏ hơn nhiều. Điều này vì mục đích sử dụng, để người sảy lúa biết hướng cầm nia cho chiều dài nan hướng về phía trước, giúp hạt lép dồn ra phía trước một cách dễ dàng và có thể hất ra bên ngoài. Nếu cầm nia ngược chiều thì hạt lép không ra được, mà lại dồn về phía bụng của người sảy lúa.</font></span></span></p>
<div style="text-align:center"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img width=479 height=417 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/nong-cu-cua-nguoi-san-diu1532018_91044.jpg"></font></span></span></div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Kỹ thuật đan lóng nia thông thường đã khó, mà người Sán Dìu còn biết kết hợp nhiều kiểu đan như “lóng đôi”, “lóng ba”, “lóng năm”... là những kiểu đan có thể gọi là mới bởi cái khó và phức tạp của kiểu đan này. Nếu nhìn qua, nhiều người dễ nhầm lẫn đó là lỗi đan, nhưng khi quan sát kỹ, thì thực tế đó là sự sáng tạo, phá cách thể hiện một trình độ đan lát cao hơn, phức tạp hơn nhiều. Nhìn tổng thể, có thể thấy nia của người Sán Dìu to tròn hơn, đường đan kín và đều đặn; nhất là các đường nan đan nổi lên tạo những đường hoa văn rõ nét, sống động.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Một trong những công cụ tiêu biểu nữa là lồng gà, mà chính xác hơn là một hiện vật có tầm quan trọng và nhiều ý nghĩa, gắn liền với nghi lễ cưới hỏi - một trong những nghi truyền thống mang tính đặc trưng của người Sán Dìu. Bởi lồng gà với nhiều dân tộc khác là công cụ dùng nuôi nhốt gà hàng ngày, nhưng với người Sán Dìu, lồng gà được đan không nhằm mục đích đó, mà chỉ để dùng trong nghi lễ “gánh gà hỏi vợ”. Trong quan niệm cưới hỏi của người Sán Dìu từ bao đời nay, nếu không có “lễ gánh gà” thì xem như không phải là lễ cưới của người Sán Dìu với bất cứ lý do nào. Vì vậy, trong mỗi gia đình người Sán Dìu nếu có con trai lớn đến tuổi hỏi vợ, thì người cha sẽ tự tay đan một chiếc lồng gà.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Lồng gà về kiểu dáng và cách đan khá khác biệt, với miệng khum gắn dây mây quấn thừng hai đầu làm quai gánh hoặc xách, thân phình, đáy nở và bằng, ốp chéo thêm hai thanh tre dưới đáy cho cứng chắc. Lồng gà được đan hoàn toàn bằng lạt tre vót mỏng, ghép hai nan với nhau rồi đan lồng kiểu mặt này đan là nan ngang thì mặt khác đan thành nan chéo, tạo thành những hình lục giác như hình thoi cụt đỉnh. Sau khi hoàn tất sẽ được cất cẩn thận nơi cao ráo, đợi ngày sính lễ sang nhà gái xin dâu, thì lấy ra cho vào đó cặp gà trống thiến, cùng các lễ vật khác do nhà gái yêu cầu. Lồng gà lúc đó được trang trí bằng việc dán quanh lồng những tấm giấy đỏ, hồng, thắt nơ in hay vẽ chữ “song hỉ”. Chính vì tầm quan trọng của nghi thức này mà người ta đặt tên gọi là “lễ gánh gà”, chứ không phải là lễ “dạm ngõ”, hay lễ “đặt trầu” như các dân tộc khác. Sau lễ cưới, lồng gà được làm vệ sinh sạch sẽ rồi đem cất đi như vật kỷ niệm của đôi vợ chồng trẻ, chứ không mang ra sử dụng.</font></span></span></p>
<div style="text-align:center"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img width=628 height=386 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2018-3/cong-cu-san-suat-cua-nguoi-san-diu1532018_91129.jpg"></font></span></span></div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Chũm bắt ếch, cá là ngư cụ sử dụng để bắt. Ếch, cá, cua ven các sông suối, ao hồ quanh địa bàn cư trú của người Sán Dìu trên đất Đồng Nai. Chũm được sáng tạo từ những dụng cụ như lờ tôm, giỏ cá của những dân tộc sông ven sông, hồ, đầm lầy với đặc điểm chung về hình dạng là miệng nhỏ, đáy phình, hom thường là bộ phận tách rời và kín đáy. Tuy nhiên, người Sán Dìu đã tạo ra những chiếc “chũm” mang tính tổng hòa mà khác biệt. Chũm có kích thước dài, dạng ống đứng, miệng phình bầu, thon nhỏ về đáy, khi nhìn người ta dễ nhầm tưởng chúng là những lờ, giỏ làm ngược của các dân tộc khác. Đây chính là sự cải biến mang đậm tính sáng tạo, phù hợp với việc đánh bắt thủy sản vùng ven sông Đồng Nai.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Tìm hiểu kỹ thuật đan mới thấy cái hay của dân tộc này, họ đan tạo hom khum sâu vào bên trong gắn liền với khung chũm, đáy có nắp rời dùng dây thép hay dây mây gắn buộc lại. Kiểu đan tuy đơn giản với kiểu đan lóng mốt, các nan ngang dọc vót không đều nhau, tạo nên những kẽ hở nhỏ giúp cua, cá, ếch dễ dàng lọt vào. Nhìn bề ngoài khá thô, song về tổng thể và kiểu dáng khác lạ cho thấy cái mới trong kỹ thuật đan lát của người Sán Dìu. Khi đánh bắt, người ta cho mồi gắn bên trong miệng hom, rồi đặt phần miệng xuống nước sao cho hai phần chũm ngập nước, một phần trên cạn ven bờ sông (nếu bắt ếch), hay toàn bộ dưới nước để miệng hom cách mặt nước khoảng 10 - 20cm (nếu bắt cá, cua). Người ta có thể đặt chũm từ sáng đến tối hay ngược lại, qua buổi họ chỉ việc ra kiểm tra và thu hoạch các loại thủy sản đánh bắt được.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Ky xúc nông sản cũng là một trong những vật dụng mang tính học hỏi về loại hình, nhưng về kỹ thuật lại mang đậm nét riêng của người Sán Dìu. Kiểu dáng của đôi ky trông giống đôi “sà neng” gánh nông sản của các dân tộc Dao, Nùng, Khmer, Chăm... hay giống gàu tát nước của người Kinh. Sản phẩm này đã có sự cải biến về kiểu dáng trong một số chi tiết, đó là một đôi ky đơn thuần, không thanh ngang cầm tay, hay dây quang để gánh như của các dân tộc anh em khác. Khi sử dụng, họ trực tiếp dùng đôi tay năm hai bên cạp ky để xúc nông sản vừa nhanh gọn lại đỡ mất sức lao động.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Trước đây, tuy thiếu phương tiện vận chuyển nhưng người Sán Dìu chỉ phải gánh gồng khi đi chợ phiên, còn trong sản xuất như: tải phân ra ruộng, nương, chở thóc lúa hoa màu về nhà, lấy củi đốt, người Sán Dìu thường dùng chiếc xe quệt. Xe quệt cấu tạo rất đơn giản toàn bằng tre, gỗ, một đầu hơi nâng lên bởi hai càng quệt do một trâu kéo. Nó có thể sử dụng trên mọi địa hình: bờ ao, ruộng thấp, trên đồi, dưới hẻm… Từ lâu, nó đã là một phương tiện vận tải thuận lợi, thực sự giải phóng đôi vai đối với người nông dân Sán Dìu.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Có thể nói, qua một số nông cụ và ngư cụ của người Sán Dìu, ta thấy nó mang những nét riêng biệt, độc đáo mà ít thấy ở những dân tộc khác, thể hiện tính học hỏi và sáng tạo. Điều đặc biệt qua sự tìm hiểu này là dường như trong kỹ thuật đan lát, cũng như trong kiểu dáng các nông - ngư cụ của họ có gì đó có thể gọi là “ngược”. Hay chăng người Sán Dìu dã sáng tạo ra cái kỹ thuật đan lát mới gọi là “kỹ thuật ngược” từ những kỹ thuật cũ gọi là “kỹ thuật thuận”, để tạo ra những nông - ngư cụ mang nét riêng và độc đáo cho dân tộc mình.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:27pt;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Như Quỳnh</font></span></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 15/03/2018 9:05 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 966</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Thu, 15 Mar 2018 02:11:38 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=54</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Người Mường ở Đồng Nai với những giá trị văn hóa vật thể</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=27</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2C7BFA3097524051AE65CECF34991529><div class=ExternalClass0479D2CA19E746819613A8391D3A19E5>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">N</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">gười Mường là một trong hơn 40 dân tộc thiểu số ở Đồng Nai với dân số là 3.243 người. Người Mường có nguồn gốc từ các tỉnh Hòa Bình và Phú Thọ di cư đến Đồng Nai từ năm 1954. Ngôn ngữ của người Mường là tiếng Việt Mường. Trước đây, người Mường sống rải rác ở các địa phương khác như Long Khánh, Xuân Lộc, Định Quán. Ngày nay, người Mường sống tập trung ở ấp Tân Lập, xã Phú Túc, huyện Định Quán với khoảng 226 hộ/1.922 nhân khẩu (số liệu thống kê của xã Phú Túc ngày 30/7/2006).</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Người Mường ở Đồng Nai có nhiều di sản văn hóa vật thể đặc trưng tiêu biểu cho phong tục tập quán. Những hiện vật chứa đựng trong đó ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện được bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc. Những hiện vật thường thấy như: mâm gỗ, dao đi rừng, dao bài, ngư cụ, nơm, đó, giỏ mây tre, giỏ đeo, điếu cày, trái đúm (trái còn), gối, mền... tuy là những hiện vật giản dị, đơn sơ nhưng chất chứa nhiều đặc trưng văn hóa của một dân tộc.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- </span></b><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nỏ:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Dùng để săn bắn thú rừng. Hình dáng giống như nỏ của các dân tộc bản địa. Người Mường dùng nỏ để săn bắn thú, khi gặp thú rừng, người ta dùng nỏ bắn vào con thú mà không gây tiếng động. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- </span></b><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Dao đi rừng:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Dao đi rừng gồm có lưỡi dao kim loại mũi nhọn, chuôi gỗ có vỏ dao cũng được làm bằng gỗ để giắt thắt lưng. Đặc biệt trên vỏ dao có thắt bằng sợi dây dù nhiều vòng với nhiều mối thắt tạo hoa văn và bỏ hai đầu ra ngoài để cột lại khi giắt vào thắt lưng. Con dao với chức năng đi rừng để phát cây làm rẫy, tự vệ phòng thân. Con dao còn để chặt cây, phát quang, làm nhà, chẻ củi… </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ngoài chức năng trên, con dao còn được sử dụng và đeo dao cũng rất khác nhau tùy thuộc vào gia cảnh mà người Mường sẽ sử dụng hoặc khi gia đình có người chết. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- </span></b><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Dao bài:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Là loại dao nhỏ, có mũi nhọn được sử dụng để cắt thịt, rau củ, cắt chỉ may vá. Trong đám cưới, cô dâu Mường đem theo con dao bài đầu cắm một lát gừng về nhà chồng với ý nghĩa trừ tà ma và thể hiện sự đảm đang khéo léo, chuẩn bị đầy đủ và tránh được sự xui sẻo trong đời sông gia đình sau này. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- </span></b><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Mâm gỗ:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đây là loại mâm dùng trong sinh hoạt gia đình và lễ hội của người Mường. Mâm hình khối vuông, dài, vành mâm vuông góc với đáy, mâm có chân cao. Trong gia đình người Mường sử dụng mâm để sắp đặt đồ ăn. Đặc biệt khi gia đình có tang, người Mường không ăn cơm bằng mâm gỗ mà thay vào đó ăn cơm sắp trên nia cho đến khi chôn người chết mới được ăn bằng mâm gỗ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trong lễ hội làng, người Mường sử dụng mâm gỗ bày lễ vật cúng thần trong lễ khai hạ (hạ nêu), lễ hạ điền, lễ thượng điền và lễ cơm mới ở các dền miếu. Mâm gỗ là hiện vật sinh hoạt dân gian tiêu biểu, </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- Ống bương nước:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> làm bằng cây lồ ô, chọn lấy đoạn dài cắt dưới mắt để làm đáy. Đầu trên cắt hở để làm miệng. Dùng lá chuôi hoặc lá tre để làm nút giắt miệng ổng. Ống bương được người Mường sử dụng để vận chuyển nước (vác nước) về nhà. Trong đám tang, ống bương được con gái cầm theo đặt dưới chân huyệt mộ để làm lễ an táng cho người chết.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- </span></b><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Giỏ mây tre:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Có hai loại giỏ đeo cho nữ và đeo của nam giới. Giỏ nữ là loại giỏ được đan bằng mây tre theo hình khôi bầu dục, đáy chữ nhật có 4 cạnh, miệng hình bầu dục. Đáy đan nan thẳng còn phần giỏ lên bằng kiểu đan nan đôi, nan ba có hình ô trám. Một mặt đeo áp vào lưng thì phẳng có dây đeo, còn mặt ngoài thì cong lồi.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Giỏ đeo của nam giới có miệng đan hơi tròn, đáy hình vuông đan nan lớn kiểu ô vuông phình ra và thon nhỏ lại ở phần miệng. Giỏ đeo mây tre được người Mường tự đan và sử dụng trong sinh hoạt sản xuất, đeo sau lưng để dựng nông cụ, hạt giống hoặc nông sản giống như gùi của các dân tộc bản địa khi đi lao động ngoài ruộng rẫy.</span></span></p>
<div style="text-align:center"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img width=470 height=377 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/mot-so-hien-vat2112017_9165.jpg"></span></span></div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">-<b> </b></span><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Ống điếu cày:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đây là hiện vật khá đặc biệt trong kho tàng văn hóa dân gian người Mường, hiện vật liên quan đến phong tục hút thuốc của đàn ông và phụ nữ Mường. Người Mường có thói quen hút thuốc bằng điếu cày (kể cả nam giới và nữ giới). Ống điếu của đàn ông thường nhỏ hơn ống điếu của phụ nữ. Hầu hết phụ nữ Mường trước kia đều biết hút thuốc lào bằng điếu cày. Họ hút thuốc từ lúc còn trẻ cho đến khi qua đời. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">- </span><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Gối đầu:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Những chiếc gối của người Mường mới thật độc đáo. Bộ gối của người Mường có nhiều loại với chức năng khác nhau như: gổì đầu, gối dựa lưng ngồi, gối kê tay... Tùy theo chức năng sử dụng mà gối có kích cỡ lớn hay nhỏ. Gối hình khôi chữ nhật, hai đầu hình vuông và được trang trí khéo kéo, độc đáo, lạ mắt. Giá trị mỹ thuật của gối Mường chính là điểm trang trí, tạo hình ở hai mặt hông gối. Bên ngoài gối luôn được bọc vải có thể là màu trơn hoặc vải bông. Gối thường được những người phụ nữ lớn tuổi khéo tay tự làm để dành tặng cho con gái hoặc cháu gái sau này làm của hồi môn đem về nhà chồng.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">-<b> </b></span><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Mền đắp:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đây cũng là đồ vật làm của hồi môn của cô dâu về nhà chồng. Mền bằng vải thổ cẩm do người Mường tự dệt lấy. Do vậy, để có được tấm mền rộng, người ta ráp nhiều miếng lại với nhau thành một tấm mền lớn, xung quanh cạp thêm phần vải khác làm viền. Phần dệt thổ cẩm thường có các màu xanh lục, dỏ, đen, vàng, hồng, hoa văn sọc với những đường hình học nối liền nhau. Những mảng dệt thổ cẩm với những hoa văn trang trí và cách ráp nối tạo khổ rộng của mền và phần cạp viền cũng là những phần trang trí mỹ thuật tạo sự đẹp mắt cho mền. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Thiếu nữ Mường thường phải học nhiều việc nữ công trong gia đình trong đó có công việc dệt thổ cẩm, làm gối, may quần áo... Chiếc mền được các cô dâu tự dệt làm của hồi môn đem về nhà chồng thể hiện sự đảm đang, khéo léo của người con gái Mường đến tuổi lập gia đình. Trong các dịp lễ hội của người Mường trước đây, nam thanh nữ tú tập trung tổ chức thi ném còn. Người ta dựng một cây nêu, treo sẵn một vòng tròn lớn. Các nam thanh nữ tú chia thành từng tốp thay phiên nhau cầm tua trái còn quay thành nhiều vòng lấy lực rồi tung qua vòng tròn trong sự cổ vũ hò reo của đông đảo dân làng. Trò chơi này cũng thể hiện sự tỏ tình của đôi trai gái…</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">-<b> </b></span><b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đó bắt cá:</span></b><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đó bắt cá là dụng cụ đánh bắt cá của người Mường. Nhìn chung, đó bắt cá của người Mường không giống đó của người Việt. Đó được đan bằng nan tre mỏng. Hình dáng giống hình thoi, ở giữa phình tròn rộng, còn hai đầu nhỏ (một đầu kín nhọn, một đầu để miệng tròn hở để gắn hom hoặc nút để lấy trút cá). Phần giữa đó, nơi phình rộng có hai hom đặt ngược chiều liền kề nhau. Mỗi hom có miệng hình ôvan để đặt bắt cá. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">-<b> Bàn thờ Thổ công (thần Đất):</b> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Người Mường có phong tục lập bàn thờ Thổ công ở ngoài trời. Hầu như trước mỗi ngôi nhà người Mường đều có một bàn thờ Thổ công. Bàn thờ Thổ công của người Mường tựa như ngôi miếu (am) nhỏ dựng thành kiến trúc giống như nhà sàn có ba vách và mái (lợp cỏ tranh hoặc tôn). Bên trong đặt 1 bát nhang, 1 chén nước, bình bông... Hàng ngày, người Mường đều thắp nhang cho bàn thờ Thổ công trước nhà. Đây là một trong những tín ngưỡng dân gian thờ Thổ công của người Mường được bảo lưu cho đến nay.</span></span></p>
<div style="text-align:center"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img width=498 height=376 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2017-11/nha-o-truyen-thong2112017_91644.jpg"></span></span></div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Vật thể của người Mường thể hiện được giá trị văn hóa ứng xử của người Mường trong cộng đồng xã hội, các phong tục tập quán vẫn luôn được bà con người Mường bảo tồn và duy trì cho đến nay. Mặt khác, những hiện vật nói lên được đặc trưng, bản sắc văn hóa của người Mường dù sống xa quê hương, bản quán, nhưng nó luôn thể hiện tính phong phú, đa dạng trong sự thống nhất của cộng đồng các dân tộc ở Đồng Nai.</span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:36.2pt;margin:0in 0in 0pt"><b><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đinh Nhài</span></i></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 02/11/2017 9:10 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 770</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Thu, 02 Nov 2017 02:16:56 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=27</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nghề săn bắt voi rừng của người M’nông</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=45</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4D00EA5A35C74D25A6D761B401058650><div class=ExternalClass426E2DBA301747DBAF52FCE835A8E6AB>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;line-height:16.2pt;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 2.75pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Dân tộc M’nông là một trong những cư dân bản địa, do cư trú ở vùng sinh thái tự nhiên đa dạng có rừng núi, sông suối, đầm hồ, thung lũng, là nơi quần tụ, sinh sống của nhiều bầy đàn voi rừng nên người M’nông rất am hiểu đời sống của loài voi và đã hình thành nghề săn bắt voi. Đây là một nghề quan trọng trong hoạt động mưu sinh của người M’nông.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;line-height:16.2pt;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 2.75pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Nghề săn voi</font></span></i></b></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;line-height:16.2pt;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 2.75pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Nghề thuần dưỡng voi rừng của đồng bào M’nông gồm 2 bước chủ yếu: bắt voi rừng và thuần dưỡng. Trong đó, bắt voi là khâu quan trọng trong quá trình thuần dưỡng voi. Nó chẳng những cung cấp voi để thuần dưỡng mà còn có thể bán ngay voi rừng cho vườn thú, rạp xiếc hoặc xuất khẩu.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;line-height:16.5pt;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 2.65pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Một đội săn phải có 10 voi chiến, 20 người cả nài chính (gru), phụ (rmăk) và người chỉ huy. Các con voi tham gia săn bắt đều là voi đực khỏe trên 35 tuổi, voi cái ít khi được sử dụng.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 3.25pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt">Với những nguyên vật liệu sẵn có từ núi rừng, qua nhiều đời tích lũy, đồng bào đã cho ra đời những dụng cụ phục vụ cho nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng hết sức hiệu quả. Nếu tính đầy đủ, người M’nông có đến 17 dụng cụ khác nhau như dây buộc voi bằng da trâu </span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>(brăt bung),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> dùi móc điều khiển con voi (</span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>kreo),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> tù và </span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>(h’nung), </em></span></span><span style="font-size:14pt">còng khoá chân voi </span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>(brớt bung),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> cái thúc voi chạy </span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>(kuc), </em></span></span><span style="font-size:14pt">roi đánh voi </span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>(mâng rplei),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> quàng cổ mây (</span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>đam</em></span></span><span style="font-size:14pt">), dây xích chân voi <em>(ng</em></span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>lêng),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> dùi xỏ lỗ tai voi <em>(</em></span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>pon toc),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> bành voi </span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>(vơng),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> chiếc lục lạc đeo cổ voi <em>(</em></span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>mang),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> vỏ cây đập dập để lót lưng voi trước khi đặt bành </span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>(dur),</em></span></span><span style="font-size:14pt"> sừng min dùng để múc nước </span><span class=BodytextItalic><span lang=VI style="font-size:14pt"><em>(ke kun)....</em></span></span><span style="font-size:14pt"> Các dụng cụ đều được phối hợp sử dụng một cách nhịp nhàng, ăn ý, hỗ trợ nhau tạo ra hiệu quả cao cho người thợ săn. Không kể lương thực, thực phẩm, mọi thứ đều do các gia đình thành viên trong tổ tự nguyện đóng góp.</span></font></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 3.25pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Voi là loài vật sống không định cư một chỗ, thích lang thang đây đó, cũng là lý do để nó tồn tại, không là mục tiêu cố định cho những kẻ muốn tấn công chúng. Đối với những người đi săn voi cũng vậy, có thể tháng trước, khi đi trinh sát thì thấy voi đang ăn ở khu vực này, nhưng khi tổ chức được đội săn và tiếp cận đến nơi thì voi đã di chuyến đi kiếm ăn ở vùng khác rồi. Voi là loài thú rất thính tai và đánh hơi được rất xa, do vậy, việc tiếp cận được chúng cũng không dễ dàng. Khi đội săn đã bắt gặp đàn voi do trinh sát phát hiện, lập tức sẽ dừng lại, làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Cũng cần nói thêm rằng, một đội voi có thể có nhiều thành viên, chủ yếu là những người có voi đực (voi chiến), nhưng trước khi bước vào mùa săn, đội phải tính toán số voi chiến có đủ mạnh để áp đảo voi rừng hay không. Căn cứ bầy voi họ đã thực tế nhìn thấy, tính toán,lực lượng chiến đấu, nếu như đội thiếu voi chiến, có khi thương lượng để mượn voi chiến của đội khác, ở đây, chính là sự thể hiện tinh thần tương thân, tương ái của đồng bào M’nông trên quê hương của những dũng sĩ săn voi.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 3.25pt 0in;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Khi phát hiện đúng đàn voi của mình (trong mùa săn có rất nhiều đội săn, nên khi về buôn, người đội trưởng thông báo ngay đàn voi đã gặp để các đội khác biết tránh việc hai đội săn gặp một đàn voi), toàn đội săn được lệnh dừng lại. Các nài phụ (rmăk) chăm lo cho việc ăn uống của voi, các nài chính (gru) sẽ cùng đội trưởng bí mật tiếp cận đàn voi. Đội trưởng phân công nhiệm vụ cho từng người cụ thể: ai đánh, ai kiềm chế và rượt đuổi, ai quăng tròng bắt voi, v.v...</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;line-height:16.65pt;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 0pt 0in;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Vào lúc rạng đông ngày trăng vơi (cuối tháng), đội quân bắt đầu vào trận theo lệnh của đội trưởng, các nài điều khiển voi của mình áp sát khu vực có đàn voi đang kiếm ăn.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;line-height:16.5pt;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 0pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đàn voi rừng đang vặt cỏ, bẻ lá cây kiếm ăn, chúng không ngờ được sự nguy hiểm đang tới gần. Bản năng đánh hơi lạ của voi đã bị vô hiệu hóa, vì con người đã được phơi gió dầm sương suốt cả cuộc hành trình, hơi người tỏa ra rất ít, hòa lẫn vào hơi voi nhà nên bầy voi rừng không nhận ra được mùi lạ. Voi săn lần lượt được tung vào trận địa. Nài nằm rạp trên mình voi, bám thật chắc lấy dây chằng bụng và bí mật điều khiển voi tiếp cận đối thủ. Giữa lúc đó, đội trưởng điều khiển voi chiến của mình cùng hai voi khác tiếp cận voi đầu đàn. Đây là thời điểm căng thẳng nhất. Nếu voi săn vẫn chưa áp sát vào voi định bắt, nếu xảy ra cuộc chiến lúc này dễ nổi loạn, thậm chí voi mẹ có thể dẫn đàn con chạy mất thì voi nhà trở thành thua cuộc.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;line-height:16.35pt;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 7.9pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Khi con voi đầu đàn phát hiện thấy đàn voi lạ xâm nhập vùng đất của mình, lâp tức nó rống lên một tiếng dữ dội rồi vươn vòi lao tới kẻ lạ mặt. Từ lúc này, tất cả mọi người nhỏm dậy trên lưng voi, dùng giáo đâm, dao gạt, hỗ trợ cho voi của mình chiến đấu. Các voi chiến dùng ngà lao vào đối phương hoặc dùng vòi đánh voi đực đầu đàn. Đúng lúc này, voi săn cũng áp sát voi con đang được voi mẹ che chở. Trận quần thảo quyết liệt chừng một giờ đồng hồ. Voi rừng yếu thế buộc phải bỏ chạy. Lúc này, dưới sự điều khiển của đội trưởng, ba voi chiến vây hãm voi đầu đàn lại, để cho các con voi khác rượt đuổi. Người quăng tròng bám sát voi con đang chạy theo voi mẹ. Voi con chạy một lúc tỏ ra mệt, loạn nhịp bước. Họ cố làm sao tách được voi mẹ chạy theođường khác bằng voi phụ trợ, còn voi chính sẽ đuổi theo voi con, dùng dây tròng móc lấy chân sau của voi con. Khi móc được rồi để cho voi con chạy thêm ít bước nữa, lựa một cây to nào đó trên đường chạy, nhanh chóng quăng dây cột lại, voi con chạy vòng quanh theo thân cây như tự trói mình tại chỗ. Đến đây, coi như mục đích của cuộc săn đã xong.</font></span></span></p>
<p class=BodyText2 style="text-align:justify;line-height:16.35pt;text-indent:28pt;margin:0in 1pt 7.9pt;background:none transparent scroll repeat 0% 0%"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Voi tạo nên những nét riêng biệt và nổi bật trong văn hóa dân gian của dân tộc M’nông. Từ văn học nghệ thuật, lễ hội tín ngưỡng, phong tục tập quán, nếp sống đến các mối quan hệ xã hội, cộng đồng đều có sự hiện diện vai trò của con voi. Trong ca dao, tục ngữ nói về con voi chứa đựng không ít tri thức của đời sống; trong nghệ thuật điêu khắc, hình tượng voi đạt đến sự hoàn chỉnh, lý tưởng của cái đẹp; trong lễ nghi, tín ngưỡng, phong tục con voi được quan niệm với một ý nghĩa thiêng liêng huyền bí. Con voi cũng là một “mắt xích”, một yếu tố quan trọng trong sự vận hành, phát huy luật tục M’nông. Nó còn giúp cho tri thức bản địa cùng với truyền thống văn hóa dân gian người M’nông thêm phong phú, đa dạng, sinh động tạo sự gắn bó khăng khít và hòa mình với thế giới tự nhiên của người dân.</font></span></span></p>
<p style="text-align:right"> <em><strong><span style="font-size:small">Hồng Hạnh</span></strong></em></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/11/2017 10:05 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 662</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 21 Nov 2017 03:09:57 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vhdantocdn/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=45</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>