﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 24/06/2026 9:02:42 SA-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/trangtin/diachiDN/_layouts/RssXslt.aspx?List=4ec2c073-99ac-47d8-b9ae-2dbe43169359" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Địa chí Đồng Nai: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Wed, 24 Jun 2026 02:02:42 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Địa chí Đồng Nai: Bài đăng</title>
      <url>/trangtin/diachiDN/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Tên thương cảng sầm uất nhất ở vùng đất Biên Hoà thế kỷ 17, 18?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=161</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2A5A3B57B6EA4EC1964866A68C570DE4>
<div><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Cù Lao Phố</font></b> </span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:20 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.148</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:22:26 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=161</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VIII diễn ra thời gian nào? Tại đâu? Có bao nhiêu đại biểu tham dự?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=164</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass98384F88C89C48509C7B94D4F4DB6429>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Đáp: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VIII được tiến hành từ ngày 21 tháng 12 đến ngày 23 tháng 12 năm 2005, tại Tp. Biên hoà, có 300 đại biểu tham dự. </font></b></span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:20 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.175</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:24:21 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=164</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Pháp đánh chiếm Biên Hoà Đồng Nai vào năm nào?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=159</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA3AEA3603DB541D8803519EBDE3C6B9C>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><b><font color="#666666">Ngày 4/2/1861, quân Pháp đánh chiếm đại đồn Chí Hoà ở Gia Định, Nguyễn Tri Phương lui quân về thành Biên Hoà để chống nhau với giặc Pháp.</font></b> </span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></div>
<div><span style="font-family:Arial"><font size=2>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-size:x-small">Kế hoạch đánh chiếm Biên Hoà được tướng Bonard chỉ huy quân Pháp ở Sài Gòn chuẩn bị từ tháng 12/1861.</span></div></font></span><span style="font-size:x-small">
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial">Ngày 14/12/1861, liên quân Pháp và Tây Ban Nha với khoảng 1000 quân, hai hạm thuyền tiến đánh tỉnh Biên Hoà cả đường bộ và đường bộ. Quân triều đình Nguyễn ở Biên Hoà chống trả khá quyết liệt, nhưng không giữ được thành và các phòng tuyến. Sáng ngày 17/12/1861, thực dân Pháp chiếm được tỉnh lỵ Biên Hoà.</span></div></span><font size=2>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:15 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 907</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:19:29 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=159</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2007: Ô nhiễm từ những làng nghề</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=60</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass6CD56ED0698941EA9946CD27C8EF42ED>
<div class=ExternalClass50C172F74D5A4BC89F3F80FB6A9A6C5D>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt"><strong>Làng nghề là một &quot;khu công nghiệp&quot; thu nhỏ, nơi tập trung chủ yếu các nghề truyền thống với những hộ sản xuất thủ công, ít vốn. Giữ và phát triển kinh tế làng nghề cũng là giữ lại sản phẩm truyền thống, giữ được sự đa dạng thành phần của nền kinh tế, hạn chế tình trạng lao động nông thôn đổ về thành phố tìm việc. Song, cách sản xuất thủ công, lạc hậu theo kiểu &quot;gia đình&quot;, môi trường làng nghề đã và đang là mối nguy cho sự phát triển bền vững.</strong></span><span style="font-size:9pt"> </span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">* Công nghệ lạc hậu + ít vốn = ô nhiễm<img alt="" align=right src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0854_HngngChin1.png"></span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">              Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có khoảng 20 làng nghề với 1.793 cơ sở  sản xuất, tập trung khoảng 18.000 lao động trực tiếp. Tuy nhiên, do việc phát triển của các làng nghề gần như thiếu quan tâm đến bảo vệ môi trường đã kéo theo tình trạng ô nhiễm ngày một tăng. Ở làng cá bè La Ngà (huyện Định Quán), mặc dù UBND tỉnh đã có quyết định di dời và hạn chế số bè cá nuôi trên sông, đồng thời cấm các hộ dân nuôi cá sinh sống trên bè, nhưng hiện nay vẫn còn hàng trăm bè cá đang được nuôi (cả được phép lẫn trái phép) trên sông. Tình trạng này đang làm nước sông La Ngà ô nhiễm nặng bởi thức ăn thừa của cá, dư lượng thuốc kháng sinh cho cá, dầu mỡ từ các phương tiện thuyền, ghe đi lại và chất thải sinh hoạt của các hộ nuôi bè. Hàng năm tình trạng cá ở những làng bè chết hàng loạt do nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, một phần do chính hoạt động của nuôi thả gây ra.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Còn làng nghề sản xuất tinh bột từ củ mì ở Bình Minh (huyện Trảng Bom) cũng đang làm &quot;chết dần&quot; những con suối và giếng nước sinh hoạt của dân trong vùng. Nghề này có mặt hơn 50 năm qua và tạo sự ổn định cho nhiều hộ dân, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động tại chỗ. Nhưng bên cạnh sự phát triển về kinh tế làng xã, nơi đây đang phải đối mặt với sự ô nhiễm từ rác thải và nước thải. Theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ và quản lý môi trường TP.Hồ Chí Minh (CENTEMA) về môi trường làng nghề ở Đồng Nai, mỗi ngày hoạt động sản xuất tinh bột ở đây thải trực tiếp ra môi trường khoảng 1.400m3 nước thải. Trong nước thải này có nhiều chất hữu cơ và men tinh bột thất thoát... tạo ra trong lòng suối, các dòng chảy nhỏ một thứ bùn rất hôi thối. Điều đáng nói, loại bùn này chính là điều kiện tốt cho tảo độc phát triển, gây ảnh hưởng không chỉ đến con người, mà còn đe dọa nhiều nhóm sinh vật hữu ích khác. Chưa kể mỗi ngày làng nghề này còn hàng vài chục tấn bã và vỏ mì không được thu gom kịp thời, bị phân hủy càng làm cho môi trường hôi thối  nhiều hơn. Cùng với sản xuất tinh bột mì, các làng nghề sản xuất miến, bún tươi, bánh phở, đường... có nguồn liệu chính là mía, mì, bắp, gạo như: làng nghề đường tán ở Tân Triều, Bình Lợi (huyện Vĩnh Cửu), miến dong, hủ tíu ở phường Tân Biên và Hố Nai (TP. Biên Hòa)... cũng thải ra môi trường khối lượng nước thải và rác thải không nhỏ. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Ở làng nghề đúc gang, đồng xã Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu), dù công cụ được cải tiến, lò nấu đã nâng cấp thay cho bễ thủ công, nhưng với mặt bằng nhỏ hẹp của sản xuất gia đình, môi trường xung quanh vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi khí thải CO2, SO2 và kim loại nặng. Làng nghề dệt vải, thổ cẩm ở Tà Lài (huyện Tân Phú), dệt lưới mùng ở Tân Mai... chủ yếu vẫn dùng công nghệ dệt thủ công nên bụi vải phát tán nhiều, tiếng ồn từ máy dệt cũ gây ồn lớn. Trong quá trình tẩy, nhuộm thường sử dụng các chất bột tạp, xút, a-xit, hóa chất tẩy rửa... xả ra nước thải độc hại và hoàn toàn không được xử lý. Hay ở phố gò thùng phường Hố Nai, hoạt động không chỉ gây tiếng ồn lớn mà trong quá trình hàn chì và sơn, phủ hóa chất cũng tạo ra khí độc, bụi sơn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của chính dân làm nghề và cộng đồng xung quanh.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Tại lớp tập huấn nâng cao nhận thức BVMT và phát triển bền vững ở khu vực HTX và làng nghề 6 tỉnh phía Nam tổ chức tại Đồng Nai ngày 6-9 vừa qua, ông Nguyễn Văn Thanh, Tổng giám đốc Trung tâm KHCN và MT (thuộc Liên minh các HTX và làng nghề Việt Nam) cho biết: &quot;Có thể nói ở làng nghề, công nghệ sản xuất lạc hậu là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường. Phần lớn các làng nghề hiện nay mang tính truyền thống, hệ thống thiết bị cũ kỹ và không đồng bộ, các hộ gia đình làm chủ, thuê lao động tại chỗ và ít vốn nên không đầu tư cho xử lý môi trường... Chính vì vậy, môi trường làng nghề trong cả nước đang rất báo động&quot;. Theo ông Thanh, hiện nay tốc độ cải tiến công nghệ ở các làng nghề còn rất chậm; một số chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, qui hoạch sản xuất tập trung, áp dụng sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng... chưa tới được người dân. Hơn nữa, việc đầu tư cho công nghệ xử lý môi trường chưa được người dân quan tâm vì phải bỏ nhiều vốn đầu tư xây dựng, vận hành, trong khi họ cần vốn cho mở rộng sản xuất hơn; mặt khác, có những làng nghề mang đậm tính &quot;cha truyền con nối&quot;, rất khó khăn cho việc cải tiến, áp dụng công nghệ mới.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">* Hướng đi nào cho môi trường làng nghề? </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Chủ trương của Nhà nước vẫn khuyến khích phát triển các làng nghề truyền thống, tiếp tục duy trì kinh tế làng xã. Bởi đó không chỉ đem lại công ăn việc làm cho người lao động, tạo cơ hội làm giàu chính đáng cho nhiều hộ dân mà thời gian gần đây, nền kinh tế phát triển đã kéo theo quy mô sản xuất của các làng nghề phát triển và  được mở rộng, tạo ra một lượng lớn hàng hóa và sản phẩm đa dạng, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của người dân vùng nông thôn, góp phần đáng kể vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, nhiều làng nghề còn sử dụng các nguyên liệu thừa, phế phẩm từ những KCN tập trung thải ra, góp phần vừa giảm được lượng chất thải phải xử lý, vừa tiết kiệm được tài nguyên, tăng thêm nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Song, để làng nghề vừa là nơi phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp, vừa bảo đảm được môi trường trong lành, cần phải có sự vận động trong nhận thức từ chính những hộ trực tiếp tham gia sản xuất với sự tăng cường trách nhiệm của ngành chức năng.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Theo nhận định của Sở Tài nguyên và môi trường (TN-MT), do làng nghề của Đồng Nai phân tán, nơi sinh sống cũng đồng thời là nơi sản xuất của những hộ ít vốn, cho nên việc di dời, quản lý và sắp xếp các làng nghề thành cụm, tiểu khu công nghiệp là rất khó. Mặc dù thời gian qua, Đồng Nai đã có nhiều chuyển biến đáng kể trong việc hạn chế ô nhiễm từ những làng nghề như di dời các lò gạch, trại chăn nuôi heo ra khỏi TP. Biên Hòa, hạn chế các hộ nuôi cá bè trên hồ Trị An và sông La Ngà hay cưỡng chế giải tỏa các hộ làng nghề hầm than ở xã Xuân Hiệp... nhưng đó mới chỉ là những biện pháp cơ học, còn thực tế các nguồn ô nhiễm phát sinh từ làng nghề vẫn đang tồn tại và chuyển từ địa bàn này sang địa bàn khác. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Báo động về ô nhiễm môi trường từ những làng nghề không phải để &quot;xóa sổ&quot; nó, nhưng là tìm những biện pháp tốt nhất để làng nghề phát triển trong môi trường bền vững. Bởi lâu nay, đối với Đồng Nai, bên cạnh sự phát triển những khu công nghiệp lớn, làng nghề cũng giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng...</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Hiện nay, vấn đề cải thiện chất lượng môi trường làng nghề khó khăn nhất vẫn là kinh phí. Bản thân các hộ sản xuất ở làng nghề là sản xuất nhỏ, ít vốn nên thật khó để kêu gọi những hộ dân này bỏ tiền đầu tư công nghệ mới, hiện đại hoặc xây dựng hệ thống xử lý khí thải, nước thải, mà việc quản lý tập trung theo kiểu cụm hoặc tiểu khu công nghiệp cũng không dễ vì các làng nghề, các hộ sản xuất ở phân tán, sử dụng nguồn liệu và lao động tại chỗ... không thể gom lại một nơi để tiện quản lý. Song, khó không có nghĩa là bỏ mặc. Một mặt, ngành chức năng tăng cường trách nhiệm kiểm tra, xử phạt những cơ sở gây ô nhiễm theo Luật BVMT; mặt khác, cần hướng dẫn những làng nghề, những cơ sở, doanh nghiệp vừa và nhỏ đến với sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn vay lãi suất ưu đãi để chuyển đổi công nghệ, khắc phục ô nhiễm môi trường. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">                                                                                   P.L</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">                                                            Theo baodongnai.com.vn</span> </span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 11:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.423</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:24:01 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=60</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Danh xưng Đồng Nai qua ca dao</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassCB57147AC6914E7198E3752831D58F69>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt"><span style="color:#666666"><strong>Năm 1698 trở thành một mốc lịch sử quan trọng đối với vùng đất Nam bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng. Đó là khởi điểm cho một vùng đất được chính thức hóa trong sự quản lý của một thể chế nhà nước thời các chúa Nguyễn. </strong></span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0708_Danhxngng1.png"><span style="font-size:11pt">Sự có mặt của lưu dân Việt trước năm 1698 ở vùng đất Đồng Nai - Gia Định là cơ sở quan trọng cho việc các chúa Nguyễn thực hiện những kế hoạch của mình khi mở mang quốc gia về phía Nam. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Trong những lớp di dân đến khai khẩn, người Việt đến Đồng Nai khá sớm. Trong vốn văn hóa dân gian của người Việt, vùng đất Đồng Nai được nhắc đến trong nhiều ca dao. Tùy thuộc vào nội dung bài hay câu ca dao mà những thế hệ di dân thuở đầu phản ánh vùng đất Đồng Nai qua nhiều góc nhìn khác nhau, gắn liền với những sự kiện, chuyện tích liên quan... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Có lẽ, câu ca dao quen thuộc nhất, được nhiều người hay nhắc đến là: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Nhà Bè nước chảy chia hai </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Câu ca dao này nhắc đến địa danh Nhà Bè - chuyện tích cảm động về nhân vật Thủ Huồng xưa làm bè ở ngã ba sông để làm từ thiện, tích đức. Nơi ngã ba sông ấy chia đôi đường để đi đến Gia Định hay Đồng Nai. Đất Đồng Nai như mời gọi những ai muốn đến, muốn về.<span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Xứ sở Đồng Nai của một thời, muôn ngàn khó khăn đối với những người di dân thuở khai khẩn, được thể hiện trong câu ca: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Đồng Nai xứ sở lạ lùng </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.<span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Thế nhưng, vùng đất rộng người thưa ấy qua một thời được khai khẩn đã trở thành vùng đất mới đầy hứa hẹn. Người di dân đến đây tìm được nguồn lợi và mưu cầu về một cuộc sống tốt hơn. Không những thế, xứ sở này được họ khai phá trở thành một nơi danh tiếng: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Ai về xin nhớ cho ai theo cùng. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">hay: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Hết gạo thì có Đồng Nai </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Hết củi thì có Tân Sài chở vô. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">hoặc: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Đồng Nai gạo trắng nước trong </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Ai đi đến đó thời không muốn về. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Vùng Đồng Nai trở nên danh tiếng khi trở thành vùng có nước ngon, gạo nhiều. Đồng Nai trở thành một nơi sản xuất lúa gạo lớn của cả vùng đất phương Nam, được nhắc đến trong câu: &quot;Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang&quot;. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (năm 1820) có viết: &quot;Bà Rịa là đầu trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: cơm Nai Rịa, cá Rí Rang, ấy là xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu...&quot;.<span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Đồng Nai có con sông lớn, nước ngọt, trong xanh. Phát tích từ cao nguyên Langbian, sông Đồng Nai vượt qua bao thác ghềnh, núi đồi để hòa biển Đông. Những nơi dòng sông đi qua để lại nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú từ Cát Tiên đến thác Trị An, làng Tân Triều... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Đồng Nai nguồn mọi cao sang </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Chảy xuống hai hàng, hàng Đại, hàng Sâm. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Hàng Sâm là một địa danh của thác Trị An, ngọn thác cuối cùng trên dòng chảy sông Đồng Nai. Thác Trị An gắn liền với những truyền thuyết lý thú. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Danh xưng Đồng Nai còn được nhắc đến như một đối sánh với đất kinh kỳ &quot;Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai&quot;. Hình ảnh của sông Đồng Nai đi với chùa Thiên Mụ vang danh xứ Huế như một điều thề hứa vững chắc: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Bao giờ cạn nước Đồng Nai </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Hơn ba trăm năm có lẻ, Biên Hòa xưa - Đồng Nai nay, trải qua bao biến thiên lịch sử đã ghi lại nhiều dấu ấn trong diễn trình hình thành và phát triển. Trên vùng đất này, nhiều địa danh, di tích, vùng đất, con sông, bến nước, làng quê, cù lao... với tên gọi, đặc điểm riêng được nhắc đến nhiều trong những bài ca dao thân thuộc. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">- Nước Đồng Nai sóng dồi lên xuống </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Cửa Đồng Môn mây cuốn cánh buồm xuôi. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">- Ngó lên Châu Thới có đám mây bạch </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Ngó xuống Rạch Cát thấy con cá trạch đỏ đuôi. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">- Trà Phú Hội, nước Mạch Bà </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Sầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Cá buôi sầu huyết Phước An </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Những bài ca dao ấy là một phần trong di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này giúp chúng ta hiểu biết thêm về Đồng Nai hiện nay. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt"><strong>Theo Báo Đồng Nai </strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:11pt">  </span> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:36 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.983</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:36:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</guid>
    </item>
    <item>
      <title>VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỈNH ĐỒNG NAI:</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=179</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass762940BDFD24448DA66615BDCC7E1E37><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt"> Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.894,73 km<sup>2</sup>, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2005 là 2.218.900 người, mật độ dân số: 365 người/km<sup>2</sup>. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2005 là 1,28%. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: <a><span style="color:purple">Thành phố Biên Hòa</span></a> - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.202"><span style="color:#0879d5">Thị xã Long Khánh</span></a> và 9 huyện: <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.201"><span style="color:#0879d5">Long Thành</span></a>;<a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.205"><span style="color:#0879d5">Nhơn Trạch</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.207"><span style="color:#0879d5">Trảng Bom</span></a>; <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.208"><span style="color:#0879d5">Thống Nhất</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.210"><span style="color:#0879d5">Cẩm Mỹ</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Vĩnh Cửu</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Xuân Lộc</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.200"><span style="color:#0879d5">Định Quán</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Tân Phú</span></a>.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><ul><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Đông giáp tỉnh Bình Thuận.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương</span></a><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff6600;font-size:10pt"> và <a><span style="color:#0879d5">tỉnh Bình Phước.</span></a></span><span style="font-size:9pt">
				</span></span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li></ul><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p>
 </p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:624px"></colgroup><tbody valign=top><tr><td valign=middle style="border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>ĐỊA HÌNH</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam. Có thể phân biệt các dạng địa hình chính như sau:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">F Địa hình đồng bằng gồm 2 dạng chính:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 m hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5 m dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài km. Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 m, có chỗ thấp hơn mực nước biển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn bao phủ. Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">F Dạng địa đồi lượn sóng:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Độ cao từ 20 đến 200m. Bao gồm các đồi bazan, Bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80. Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ. Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt"><span style="color:#006600">F Dạng địa hình núi thấp:</span>
								</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 – 800m. Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía bắc của tỉnh thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc. Tất cả các núi này đều có độ cao (20–300), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc &lt; 8<sup>o</sup>, 92% đất có độ dốc &lt;15<sup>o</sup>, các đất có độ dốc &gt;15<sup>o</sup> chiếm khoảng 8%. Trong đó: Đất phù sa, đất sét và đất cát có địa hình bằng phẳng , nhiều nơi trũng thấp ngập nước quanh năm. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc &lt; 8<sup>o</sup> , đất đỏ hầu hết &lt; 15<sup>o</sup>
								</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>ĐẤT ĐAI</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính. Tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung sau: </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên đá bazan: Gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có độ phì nhiêu cao, chiếm 39,1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía bắc và đông bắc của tỉnh. Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: cao su, cà phê, tiêu…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như: đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phí nam, đông nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch). Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên phù sa mới như: đất phù sa, đất cát. Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà. Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Theo quy định của luật đất đai, việc kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần. Ngày 18/08/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 24/1999/CT –TTg về tổng kiểm kê đất đai năm 2000. Công tác tổng kiểm kê đất đai năm 2000. Trung tâm Kỹ thuật Địa chính – Nhà đất là đơn vị được giao nhiệm vụ phối hợp với phòng Địa chính các huyện, thành phố Biên Hoà và cán bộ địa chính các xã, phường, thị trấn trong tỉnh để tổ chức thực hiện, số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2000 đã được kiểm tra nghiệm thu và sử dụng thống nhất trong toàn tỉnh, giai đoạn 2001 – 2005.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tổng diện tích toàn tỉnh có: 589.473 ha. Bao gồm:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất nông nghiệp: 302.845 ha. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất lâm nghiệp: 179.807 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất chuyên dùng: 68.018 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất ở: 10.546 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối , núi đá: 28.255 ha</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đất của tỉnh Đồng Nai có 10 nhóm đất chính như:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất xám chiếm 40,05% diện tích tự nhiên (DTTN), thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cho xây dựng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất đen chiếm 22,44% DTTN, thích hợp trồng các loại cây hằng năm </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất đỏ chiếm 19,27% DTTN, rất thích hợp trồng các cây công nghiệp dài ngày </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ngoài ra là các nhóm đất như đất phù sa (4,76%) có thể dùng cho trồng lúa, hoa mầu và các loại khác.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Lâm nghiệp: 292.611.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Lâm nghiệp: 174.762.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Chuyên dùng: 70.286.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất ở: 10.975.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tình hình sử dụng đất của tỉnh những năm qua có biến động ít nhiều, nhưng đến nay, Đồng Nai vẫn là tỉnh có quy mô đất nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Bộ.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>KHÍ HẬU</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa). </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nhiệt độ bình quân năm 2005 là: 26,3<sup>o</sup>C chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất là 4,2<sup>o</sup>C.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Số giờ nắng trung bình trong năm 2005 là: 2.243 giờ. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ tương đối lớn khoảng 2.065,7mm phân bố theo vùng và theo vụ.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Vì thế Đồng Nai đã sớm hình thành những vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày, những vùng cây ăn quả nổi tiếng,... cùng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Độ ẩm trung bình năm 2005 là 80%.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Mực nước thấp nhất sông Đồng Nai năm 2005 là: 109,24m.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Mực nước cao nhất sông Đồng Nai năm 2005: 113,12.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; tài nguyên rừng và nguồn nước... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ngoài ra Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi. Trong đó, hồ Trị An diện tích 323km<sup>2</sup> và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi.... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN NƯỚC</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước mặt: Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km<sup>2</sup>, song phân phối không đều. Phần lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam. Tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m<sup>3</sup>/năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Đồng Nai: Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3 và là vùng trung lưu của sông. Đoạn từ ranh giới Đồng Nai - Lâm Đồng đến cửa sông Bé Tân Uyên sông chảy theo hướng tây bắc – đông nam. Địa hình lưu vực đoạn trung lưu từ 100-300 m, đoạn từ Tà Lài đến Trị An có nhiều thác ghềnh. Đoạn sau Trị An sông chảy êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu. Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai có sông La Ngà, Sông Bé.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông La Ngà: Đoạn sông La Ngà chảy trong tỉnh Đồng Nai dài 55 km, khúc khuỷu, nhiều ghềnh thác (ví dụ: thác Trời cao trên 5m). Đoạn này sông La Ngà hẹp, có nhiều nhánh đổ vào, điển hình là suối Gia Huynh và suối Tam Bung. Suối Gia Huynh có lưu vực 135 km<sup>2</sup>, mô đun dòng chảy 91/s km<sup>2</sup> vào mùa khô và 47,41/s km<sup>2</sup> vào mùa mưa, bắt nguồn từ vùng Quốc Lộ 1, ranh giới Đồng Nai - Bình Thuận. Suối Tam Bung có diện tích lưu vực 155 km<sup>2</sup>, bắt nguồn từ phía bắc cao nguyên Xuân Lộc, mô đun dòng chảy 101/s km<sup>2</sup> vào mùa khô và 651/s km<sup>2</sup> vào mùa mưa. Sông La Ngà đổ vào hồ Trị An một lượng nước khoảng 4,5x109 m<sup>3</sup>/năm, chiếm 1/3 tổng lượng nước hồ, mô đun dòng chảy năm 351/s km<sup>2</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Lá Buông: Bắt nguồn từ phía tây cao nguyên Xuân Lộc, chảy theo hướng từ đông sang tây, độ dốc lưu vực đạt 0.0035. Độ dài sông tính theo nhánh dài nhất khoảng 40 km, sông có lượng nước dồi dào so với các sông nhỏ trong tỉnh với tổng lượng nước trung bình 0,23 x 109 m<sup>3</sup> /năm, mô đun dòng chảy năm 27,61/s km<sup>2</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Ray: Lưu vực sông chiếm gần 1/3 diện tích phía Nam của tỉnh. Sông bắt nguồn từ phía nam, đông nam cao nguyên Xuân Lộc, đổ thẳng ra biển, chảy theo hướng bắc nam, độ dốc lưu vực khá lớn (0,004), do vậy nếu không có đập chặn giữ thì nước sông sẽ tập trung nhanh ra biển, trong mùa khô thường cạn kiệt nước. Tổng lượng nước sông khá lớn 0,634 x 109 m<sup>3</sup> /năm trong đó mùa mưa chiếm 79%. Sông Ray nếu được sử dụng hợp lý có thể giải quyết vấn đề khô cạn cho vùng đông nam của tỉnh.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Xoài và sông Thị Vải: Đây là 2 sông thuộc vùng phía tây nam của tỉnh, bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc và đổ thẳng ra biển. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Sông Thị Vải ở phía thượng lưu gồm các suối nhỏ và dốc, phần hạ lưu (phía duới Quốc Lộ 51 đi Vũng Tau) là sông nước mặn, lòng sông mở rộng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Sông Xoài có 2 nhánh chính là Châu Pha và Suối Dun, các suối ngắn và hẹp. Diện tích lưu vực 184 km<sup>2</sup>, tổng lượng nước trung bình 0,1015 x 109 m<sup>3</sup> /năm, mô đun dòng chảy năm 17,51/s km<sup>2</sup>, sông Xoài có ý nghĩa to lớn đối với vùng sản xuất nông nghiệp Châu Thành và cấp nước ngọt cho Vũng Tàu. Hạ lưu sông Xoài là vùng nước mặn, độ mặn có thể đạt tới độ mặn của nước biển..</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước ngầm:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Trữ lượng nước tĩnh của toàn tỉnh Đồng Nai là 793.379 m<sup>3</sup>/ngày. Trong đó trữ lượng dung tích (trữ lượng tĩnh trọng lực) là 789.689 m<sup>3</sup>/ngày và trữ lượng đàn hồi là 3691 m<sup>3</sup> /ngày.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Trữ lượng động khoảng 4.714.847 m<sup>3</sup> /ngày là toàn bộ dòng mặt vào mùa khô và là giới hạn dưới của trữ lượng nước dưới đất. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Như vậy tổng trữ lượng nước dưới đất của tỉnh Đồng Nai là khoảng 5.505.226 m<sup>3</sup> /ngày.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tuy trữ lượng nước dưới đất tỉnh Đồng Nai phong phú, nhưng phân bố không đều, các tháng mùa khô không có mưa, nhu cầu khai thác lại lớn, vì vậy khai thác nước dưới đất phải theo qui hoạch khai thác hợp lý.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN DU LỊCH</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Khu Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai , Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, Thác Mai - hồ nước nóng , Đảo Ó... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đến Đồng Nai du khách sẽ có dịp tham gia những chuyến du lịch sinh thái trong các khu rừng hoặc vườn cây ăn quả, câu cá, du thuyền trên sông Đồng Nai, dã ngoại tại các thắng cảnh: hồ Long ẩn, khu văn hoá Suối Tre, thác Trị An, rừng Mã Đà,... hay tham quan các di tích lịch sử, văn hóa: chiến khu Đ, Văn miếu Trấn Biên, nghiên cứu các di chỉ khảo cổ: mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Kim loại:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Vàng: Đến nay đã phát hiện 17 mỏ, điểm quặng và khoáng hoá. Tập trung chủ yếu ở phía bắc Tỉnh. Có 2 mỏ nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An rất có triển vọng. Còn lại là các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nhôm (Quặng bauxit): Mới phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà, diện tích khoảng 1.120ha, tuy nhiên đã thuộc vào vùng cấm (rừng Nam Cát Tiên) trên 2/3 diện tích. Trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m<sup>3</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Thiếc: Chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật. Các vành này có diện rộng nhưng hàm lượng thấp không có ý nghĩa tìm kiếm. Tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Chì kẽm đa kim: Được phát hiện ở núi Chứa Chan.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Không kim loại:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Kao lin: Đã phát hiện 10 mỏ, chủ yếu là các mỏ nhỏ và các điểm quặng. Tập trung chủ yếu ở Phước Thiền, Hang Nai, Phước Thọ, Tam Hòa, Tân Phong, Bình Ý, Thạnh Phú.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Sét màu: Đến nay đã phát hiện 9 điểm quặng ở khu vực Long Bình Tân, Xuân Khánh và Xuân Lộc. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đá vôi: Chỉ mới phát hiện 2 điểm ở Tân Phú và Suối Cát.. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Thạch anh mạch: Phân bố rải rác, chỉ mới phát hiện 1 điểm ở Xuân Tâm (huyện Xuân Lộc).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Thạch anh mạch được sử dụng trong luyện kim.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đá xây dựng và ốp lát: Đá xây dựng. 24 mỏ đang khai thác, tập trung ở Biên Hòa, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Thành, Vĩnh Củu, Định Quán, Nhơn Trạch, Xuân Lộc.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Cát xây dựng: Chủ yếu trên sông Đồng Nai từ ngã ba Tân Uyên đến ngã ba mũi đèn đỏ, đã được thăm dò đánh giá trữ lượng. Ngoài ra trong các sông suối nhỏ đều có cát ở khu vực Định Quán, Tân Phú đặc biệt là trong lòng hồ Trị An.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Cát san lấp: Phước An (Đồng Mu Rùa, Gò sim…), Sông Nhà Bè, Đồng Tranh.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Sét gạch ngói: Khá phong phú, phân bố chủ yếu Thiện Tân, Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu), Long An, Long Phước (huyện Long Thành).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Keramzit: Phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Puzolan: Rất phong phú, tập trung ở Định Quán, Long Thành và 1 ít ở Cây Gáo, Gia Kiệm (Thống Nhất) và Vĩnh Tân (Vĩnh Cửu).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Laterit: Khá phổ biến. Tập trung ở Vĩnh Cửu, Biên Hoà, Long Thành và nhơn Trạch.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đá quý và báu quý: Quy mô nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ziricon: Gia Kiệm, Núi Lá, Tân Phong</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Saphia: Cầu La Ngà, phía nam Tân Phong, Gia Kiệm.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Pyrop-ziricon.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Opan-canxedoan: núi Chứa Chan.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tecfic: bắc Tài Lài.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nước khoáng, nước nóng và nước ngầm gồm: </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng - nước nóng: ở Phú Lộc và Kay</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng Magie – bicarbonat: ở suối Nho</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng siêu nhạt: ở Tam Phước và Nhơn Trạch</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng sắt: ở phía Nam Thành Tuy Hạ</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước mặn loại Clorua – Natri: ở Nam Tuy Hạ</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước ngầm: Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch trên thung lũng các sông Đồng Nai, La Ngà.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN RỪNG</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% DTTN, năm 1981 còn 21,5%. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Năm 2004 độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến năm 2010.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="color:#cc0000;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Diện tích các loại rừng:</strong></span></p></td></tr></tbody></table></div><p> 
 </p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:143px"><col style="width:170px"><col style="width:172px"><col style="width:146px"></colgroup><tbody valign=top><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Loại rừng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổng diện tích (ha)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng tự nhiên (ha)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng trồng (ha)</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng đặc dụng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">82.795,5</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">80.520,4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2.275,1</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng phòng hộ</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">44.144,2</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">21.366,8</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">22.777,4</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng sản xuất</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">26.646,3</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">8.406,4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">18.239,9</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổng cộng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">153.586,0</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">110.293,6</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">43.292,4</span></p></td></tr></tbody></table></div><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>GIAO THÔNG</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đồng Nai đã có bước tiến nhanh trong đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, nhất là giao thông đường bộ. Hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được nâng cấp mở rộng thành tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (QL1, QL51), cấp III đồng bằng như QL 20 (tuyến đi Đà Lạt, trên địa bàn tỉnh dài 75km đã được trải thảm lại mặt đường). Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700km đường nhựa. Ngoài ra, hệ thống đường phường xã quản lý, đường các nông lâm trường, KCN tạo nên 1 mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường đã có đường ô- tô đến trung tâm.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Theo quy hoạch trong tương lai gần, hệ thống đường cao tốc đi Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ chí Minh, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, nâng cấp tỉnh lộ 769 nối quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51... sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển KTXH địa phương và khu vực..</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>HỆ THỐNG CẢNG ĐỒNG NAI</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Long Bình Tân trên sông Đồng Nai: cách quốc lộ 1, phía bên phải hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội 800 mét; công suất 460.000 T/năm với tàu 2000 GRT đã xây xong và đã đa vào khai thác một cầu cảng 60m, một bến xà lan; Tương lai, sau khi nạo vét luồng: 5.000 DWT. Văn phòng chính đặt tại Phường Long Bình Tân, Thành phố Biên Hòa. Điện thoại: 84.61.83225/ 831439 - Fax: 84.61.831259. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Gò Dầu A trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2 km. Hiện tại, cỡ tàu lớn nhất tiếp nhận được khoảng 2.000 GRT; tương lai sau khi nạo vét luồng là 10.000 DWT. Văn phòng phân cảng đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 84.61.827328 - Fax: 84.61.841252. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Gò Dầu B trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2,5 km; đã đưa vào khai thác và sẽ nâng cấp lên đạt công suất thiết kế 10 triệu tấn/năm, 2 bên có khả năng tiếp nhận tàu 15.000 DWT. Văn phòng phân cảng đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 84.61.841599 - Fax: 84.61.816790. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Ngoài ra, đang tiến hành lập dự án các Cảng Phú Hữu, Cảng Phước An. Giám đốc Cảng Đồng Nai: Ông Nguyễn Mạnh Tiến. Mobile phone: 091.942.248.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Các dịch vụ chính là đại lý hàng hải, bốc xếp, kho hàng, giao nhận vận tải. Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng đã đạt 700.000 tấn/năm. Dự kiến nâng sản lượng hàng hóa thông qua cảng lên 25 - 30 triệu tấn/năm. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT QUỐC GIA ĐI QUA TỈNH</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có hệ thống đường sắt quốc gia đi qua tỉnh vời tổng chiều dài là 87,5 km với 12 ga: Gia Huynh, Trảng Táo, Gia Ray, Bảo Chánh, Xuân Lộc, An Lộc, Dầu Giây, Bàu Cá, Trảng Bom, Long Lạc, Hố Nai và Biên Hoà. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối tỉnh Đồng Nai với miền Bắc và TP. Hồ Chí Minh.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:gray;font-size:10pt"><strong><em>THKC biên tập theo số liệu từ Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai cung cấp</em></strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 25/06/2010 2:28 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 11.901</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 19:28:10 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=179</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mộ Cự thạch Hàng Gòn - Công trình kiến trúc mộ cổ huyền bí</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=102</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass60CDE7BC7C7F4A7885B64BD6E1306672>
<div><font color="#666666" size=2><strong>Sau nhiều năm nỗ lực của ngành khảo cổ học Việt Nam trong việc vén bức màn &quot;bí ần&quot; về di tích mộ cổ Cự thạch Hàng Gòn, các nhà khoa học đã phát hiện hết bí mật này đến bí mật khác. </strong></font></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Một nhà nghiên cứu khảo cổ học người nước ngoài đã phải thốt lên: &quot;Đây là di tích Cự thạch kỳ lạ trên vùng đất đỏ huyền vũ nham Xuân Lộc đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt của nhiều học giả trên thế giới&quot;.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><strong>Công trình kiến trúc mộ đá cổ độc đáo</strong></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn, nay thuộc ấp Hàng Gòn (xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh,  Đồng Nai) đã được phát hiện và khai quật từ năm 1927.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Năm 1928, di tích đã được xếp hạng và ghi vào danh mục các di tích lịch sử &quot;Mộ Đông Dương - mộ Dolmen Hàng Gòn&quot; và đến năm 1984, Bộ Văn hóa đã xếp hạng Mộ Cự thạch Hàng Gòn là di tích quốc gia, 1 trong 10 di tích quan trọng ở Nam bộ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Các nhà khoa học đánh giá, đây là một di tích độc đáo cả về nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Mộ Cự thạch Hàng Gòn là một dạng hầm mộ, được cấu tạo bởi những tấm đá hoa cương lớn và những trụ đá dài, nặng khoảng 30 - 40 tấn. Ngôi mộ có hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bới 6 tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, 2 tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Liên kết giữa tấm đá hoa cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m X 0,3m, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Những phát hiện đầu tiên về ngôi mộ do một kỹ sư người Pháp tên là Jean Bouchot khám phá vào năm 1927 trong khi đào ủi mặt bằng để thi công tuyến giao thông Long Khánh đi Bà Rịa - V ũng Tàu.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Sau đó có nhiều đoàn khảo cổ trong và ngoài nước đến nghiên cứu di chỉ khảo cổ học này. Tuy nhiên, cho đến khoảng tháng 3/2006, các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ và Ban quản lý di tích - danh thắng Đồng Nai phối hợp mở đợt điều tra nghiên cứu quy mô. Nhiều phát hiện mới đã được đoàn nghiên cứu làm rõ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Trong quá trình đào thám sát, đã phát hiện dấu vết của những vệt đất cháy kéo dài thành hình vòng cung, phía trên có rất nhiều than tro và xỉ kim loại; các mảnh đồ gốm trên thân có hoa văn làm từ chất liệu đất sét pha cát và vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ; phát hiện 2 chiếc tù và bằng đồng và 2 chiếc bàn mài bằng đá có lỗ đeo.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Năm 2007, đoàn đã tiếp tục khai quật và giải mã những &quot;bí mật&quot; di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn. Nhiều hiện vật bằng gốm, bằng đá, các dụng cụ bàn mài, các cột đá và những vết đất cháy, than tro.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Đặc biệt trong xưởng chế tác đá đã tìm thấy trước đó, đoàn khảo sát cũng đã tìm thấy những tấm đá, cột đá, nhiều phế vật mảnh tước đá và nhiều công cụ lao động. Qua đó cho thấy người xưa đã vận chuyển những khối đá lớn về Hàng Gòn để gia công tạo ra những tấm đan, cột đá sử dụng cho kiến trúc mộ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Qua so sánh phân tích, các nhà nghiên cứu đã đưa ra phán đoán cho rằng, chủ nhân của Mộ Cự thạch là một nhân vật quyền uy, là thủ lĩnh của một bộ lạc hay liên minh các bộ lạc hùng mạnh về kinh tế và quân sự; niên đại của di tích được xác định trong khoảng thời gian 150 trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><strong>Như một &quot;thạch tự tháp&quot;</strong></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Bouchot - Người đầu tiên khám phá ra ngôi mộ - cho rằng sự &quot;huyền bí&quot; của hầm mộ Cự thạch Hàng Gòn là do các nhà xây dựng thời tiền sử quan tâm đến sự bảo mật giống như &quot;bí truyền&quot; thường thấy ở nhiều dân tộc sống ở khu vực Thái Bình Dương.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Ông cho rằng người Việt cổ đã biết tập hợp nhau lại tạo thành sức mạnh phi thường mới có thể vận chuyển được những cấu kiện bằng đá lớn như vậy, ngay cả đền Angkor (Campuchia) cũng không thấy những tảng đá nặng như thế.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Các nhà khảo cổ cho rằng, để xây dựng công trình trên, người Việt cổ phải huy động sức lao động của cả cộng đồng, tổ chức lao động một cách rất chặt chẽ. Đây là một công trình giống như &quot;thạch tự tháp&quot; của miền văn hóa sông Đồng Nai.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Ghi nhận của ngành Bảo tàng, Khảo cổ học Việt Nam cho thấy: Từ năm 1975 đến nay, có hàng trăm đoàn khảo cổ học từ các nước đến Hàng Gòn để tìm hiểu, nghiên cứu về quần thể di tích cự thạch độc đáo này.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Nhiều người cho rằng, đây là một ngôi mộ chôn dưới hình thức hỏa thiêu được xây dựng vào thời kỳ kim khí thuộc giai đoạn đồng phát triển (hậu kỳ thời đại đồ đồng) có khả năng chuyển sang thời kỳ đồ sắt; đồng thời khẳng định công trình này không chỉ có giá trị về kích thước (được xem là ngôi mộ đá lớn nhất Đông Nam Á đã phát hiện vào thời điểm hiện nay) mà còn chứa đựng giá trị lớn về trí sáng tạo của người tiền sử được ví như &quot; nền văn minh sông Đồng Nai&quot;.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Bí mật về quần thể di tích mộ Cự thạch Hàng Gòn hiện vẫn đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới khảo cổ học trong và ngoài nước. Một cuộc hội thảo cũng vừa được tổ chức tại tỉnh Đồng Nai để bàn biện pháp phục chế và bảo tồn di tích lịch sử độc đáo này.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Hiện Bộ văn hóa - Thể thao và Du lịch cùng với UBND tỉnh Đồng Nai đang đề nghị các nhà kiến trúc, nhà quản lý, các nhà khoa học cho ý kiến về phương án bảo tồn và tôn tạo di tích mộ cự thạch Hàng Gòn để sớm triển khai trùng tu.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in"><em><b>Theo báo Tiền Phong</b></em></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:30 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.831</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:34:21 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=102</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nhà máy nào được xem là cơ sở công nghiệp quan trọng đầu tiên ở Biên Hoà. Tên và năm xây dựng nhà máy này. Nay là cơ sở sản xuất gì? Ở đâu?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=177</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4B8A20F1B7FF488694F5A734C01ADEE9>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Trả lời: Nhà máy được xem là cơ sở công nghiệp quan trọng đầu tiên ở Biên Hoà là nhà máy cưa BIF Tân Mai. Xây dựng năm 1907 và chính thức đưa vào hoạt động 1912. Nay là nhà máy tổ hợp gỗ ván Tân Mai ở Tân Mai - Biên Hoà.</font></b> </span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:30 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.561</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:31:51 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=177</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chiến khu Đ – vùng đất huyền thoại lịch sử</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8FA9E0DDBBFF46F8BE20067EFE71380E>
<div><b><font color="#666666" size=2>Mảnh đất “lam sơn trướng khí hội tụ anh hùng”</font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Qua hết con đường nhựa, xe chạy dọc con đường đất đỏ quanh co đưa chúng tôi đến với căn cứ Khu uỷ miền Đông (là một trong những căn cứ nằm trong căn cứ địa chiến khu Đ). Đọc cuốn tài liệu “Di tích lịch sử Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ (chiến khu Đ)” mà chị Lan Hương, tổ trưởng tổ thuyết minh khu di tích đưa cho và nghe chị hướng dẫn, được xem những thước phim tư liệu của một thời hùng tráng nơi đây, chúng tôi cùng bồi hồi trong niềm tự hào xúc động hình dung về lịch sử cách đây 60 năm.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Từng là căn cứ đầu tiên của tỉnh Biên Hòa được xây dựng vào tháng 2-1946, sau Hội nghị cán bộ quân sự ở Lạc An, huyện Tân Uyên (nay là xã Lạc An, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) với địa thế hiểm trở của phần đất cuối cùng chuyển tiếp của dãy Trường Sơn xuống vùng đồng bằng, chiến khu Đ chính thức trở thành trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam và được mở rộng bao trùm toàn bộ vùng rừng ngang đường 16, trải dọc lưu vực hữu ngạn sông Đồng Nai, đổ về thượng nguồn giáp giới Sông Bé. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp các cơ quan, đơn vị ta tại Chiến khu Đ đã vượt qua nhiều khó khăn: nào thiên tai (đặc biệt là cơn bão lụt khốc liệt năm Nhâm Thìn 1952), nào địch họa do càn quét, đánh phá bằng bom đạn, phá hoại kinh tế, gài do thám chỉ điểm, biệt kích... đã giữ vững căn cứ địa cách mạng, đóng vai trò hậu phương tại chỗ của miền Đông, là bàn đạp để lực lượng ta tiến công vào các cơ quan đầu não, căn cứ quân sự, kho tàng, đường giao thông chiến lược của địch, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân cả nước, đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại, vùng chiến khu Đ tiếp tục được mở rộng bao gồm toàn bộ cao nguyên miền Trung và biên giới Campuchia, được coi là vùng “tam giác sắt” nối liền từ chiến khu rừng Sác, Dầu Tiếng, Xuyên Mộc, Phước Cơ đến căn cứ Củ Tri, Bến Cát và được coi là thủ đô kháng chiến của dân tộc với nhiệm vụ chính của mình là trung tâm tâm lãnh đạo cách mạng miền Nam, là nơi xây dựng các binh đoàn chủ lực, đào tạo, huấn luyện cán bộ, chiến sĩ. Trong lòng chiến khu cách mạng ngày càng mở rộng, nhiều căn cứ được hình thành và phục vụ đắc lực cho phong trào cách mạng miền Đông Nam Bộ. Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ, nơi chúng tôi đang đứng chân nơi đây được xây dựng vào năm 1962, thuộc địa phận phân trường 6, Lâm trường Hiếu Liêm, xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu để đảm nhận nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trên địa bàn khu. Căn cứ địa toạ lạc giữa đỉnh đồi đất sỏi khá bằng phẳng với diện tích hơn 28ha. Toàn bộ khu đồi được bao phủ bởi rừng cây dày đặc trong hệ thống rừng miền Đông với hệ thống giao thông hào, hệ thống địa đạo liên hoàn và hệ thống nơi làm việc, trú ẩn của lãnh đạo Khu uỷ và các cơ quan trực thuộc. Tại khu căn cứ này, Khu uỷ miền Đông đã đứng chân trong suốt thời gian dài lãnh đạo cách mạng (1962-1967), góp phần làm nên những chiến thắng Phước Thành, Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Sắn…chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"> Là nơi đào tạo, nuôi quân, là cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, Chiến khu Đ cũng chính là một trong 3 mũi giáp công, là bàn đạp tấn công vào cửa ngõ Sài Gòn theo hướng Đông Bắc. Vì thế mà Mỹ - nguỵ đã ra sức tìm cách tàn phá nơi đây. Song mảnh đất chiến khu Đ vẫn anh dũng vượt qua bao khắc nghiệt của bom Napan, của chất độc hoá học, những trận càn quét khốc liệt của địch trở thành “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, xứng đáng là nơi hội ngộ của những anh hùng trên khắp mọi miền đất nước, những người vì cuộc kháng chiến của dân tộc mà đến và cũng từ đây mà ra đi, nơi tụ hội trí khí, niềm tin thiêng liêng của cả dân tộc, làm nên đại thắng mùa xuân 1975, hoàn thành cuộc trường chinh cứu nước vĩ đại.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><b><i>* Chiến khu Đ trong tương lai: Hành trình về nguồn</i></b></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Đoạn đường từ xã Phú Lý đến di tích Khu uỷ miền Đông - Chiến khu Đ hôm nay đã có nhiều đổi thay. Đi trên con  đường trải nhựa láng mướt, hoà mình trong không khí mát lành giữa cây rừng xanh bạt ngàn, chúng tôi mới càng thấm thía và cảm nhận hết được sức sống phi thường của thiên nhiên cũng như con người nơi đây khi phải oằn mình suốt mấy mươi năm trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trường kỳ, gian khổ để cất vang khúc khải hoàn chiến thắng mùa xuân năm 1975 và để hôm nay mảnh đất, tình người chiến khu xưa lại giang rộng vòng tay đón chào các thể hệ cháu con trong những chuyến du lịch về nguồn…</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Nơi đây có một di tích và truyền thống lịch sử hào hùng, chính vì điều đó trong những năm qua đã có rất nhiều những cuộc du lịch tìm về nguồn giúp các thế hệ thanh niên tìm hiểu về mảnh đất và con người nơi chiến khu Đ, tìm hiểu về lịch sử nơi đã trở thành thành trì kiên cố bảo vệ an toàn cho cán bộ và nhân dân các tỉnh miền Đông Nam bộ suốt 2 cuộc kháng chiến và đồng thời cũng giáng cho quân thù những trận đòn chí tử. Trong vòng 3 năm trở lại đây đã có trên 70 ngàn lượt du khách đến thăm quan Căn cứ Khu uỷ miền Đông Nam bộ - chiến khu Đ. Hiện nay, di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông đã được tôn tạo, trùng tu và được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia. Trong hướng quy hoạch chung, di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông cùng với hệ thống di tích địa đạo Suối Linh, di tích Căn cứ Trung ương cục miền Nam, khu công viên lịch sử văn hoá miền Đông Nam bộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu sẽ trở thành một địa điểm sinh hoạt văn hóa truyền thống lý thú, du lịch sinh thái hấp dẫn. Theo như dự án Trung tâm sinh thái – văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ, sẽ có đến 73% diện tích dành cho cây xanh và mặt hồ, với 7 hạng mục công trình: tượng đài trung tâm, di tích 9 tỉnh miền Đông, bảo tàng Chiến khu Đ, sân lễ hội, khu hành chính, cây xanh và hồ nước, bãi đậu xe. Mọi sự tôn tạo, trùng tu, xây mới sẽ được thực hiện trên nguyên tắc bảo vệ nguyên hiện trạng lịch sử, tôn trọng yếu tố tự nhiên và bảo vệ rừng sinh thái đầu nguồn thủy điện Trị An. Ngoài mục tiêu tôn vinh các dự tích lịch sử và giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng cho lớp thế hệ con cháu, dự án còn nỗ lực tạo sức bật mới cho ngành du lịch Đồng Nai trong thời kỳ mới.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Ông Phạm Thanh Sơn – Phó Giam đốc Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích huyện Vĩnh Cửu cho biết thêm: Trung tâm sinh thái – văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ sẽ có điểm nhấn kết hợp với các quần thể di tích. Khi du khách đến tìm hiểu lịch sử, sẽ được thăm quan nhiều nơi khác như: tìm hiểu lễ hội và sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Châu Ro, thăm quan Bãi đá dựng - Suối Linh, thác Bàng, Di chỉ khảo cổ Lò gốm cổ ở trạm 3 xã Hiếu Liêm có niên đại cách đây 2500 – 3000 năm, nhà máy thủy điện Trị An… Kết hợp với các địa điểm này, là các dịch vụ phục vụ ăn uống, vui chơi giải trí cho du khách gắn với văn hóa ẩm thực của chiến khu Đ: canh lá rừng, khoai mì, cá tào đồi, măng rừng… Bên cạnh đó, khi mà khu du lịch này được đầu tư quy mô, các nghề truyền thống của đồng bào dân tộc sẽ có điều kiện phát triển để phục vụ khách du lịch như: mây – tre đan, gùi , dệt thổ cẩm…</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Trở lại chiến khu Đ trong những chuyến du lịch về nguồn như vậy giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử hào hùng và oanh liệt của vùng đất “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, từng là nỗi kinh hoàng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vùng đất chiến khu Đ ngày ấy và bây giờ sẽ mãi tỏa sáng ngọn lửa truyền thống, cháy rực “hào khí miền Đông” trên bước đường xây dựng tương lai…</div>
<div style="line-height:150%"><b><i>        Hương Sen – Lê Lan</i></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:10 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.317</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:14:25 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Phật Tích Tòng Lâm: chùa trắng giữa rừng tòng - Tỉnh Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=105</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassD63BF8F5581841009478C186D69C6403>
<div class=ExternalClass39BF7961C9A442FDB6C7FA9C5B689348>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Một trong những thắng cảnh ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai là Phật Tích Tòng Lâm. Đây là quần thể kiến trúc cụm chùa có những nét văn hóa đặc sắc. Trong không gian tràn đầy bóng râm của các cây cổ thụ, du khách cảm thấy lòng mình thanh thản lạ thường.</font></b></span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span></div>
<div><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Điều để lại ấn tượng cho du khách là dòng suối thiên nhiên trong vắt chảy ngang qua chùa. Cũng từ đó mà trước kia hòa thượng tổ sư nảy sinh ý định xây dựng thành một đại già lam như ngày nay. Nước suối mát lạnh có thể hạ nhiệt ngọn lửa trần tục mỗi khi khách thập phương dùng đến. Do vậy, không ngẫu nhiên con suối được mang tên suối &quot;giải thoát&quot;. </span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Cảnh quan ở Phật Thích Tòng Lâm càng thêm phần tôn nghiêm bởi cụm tượng nghệ thuật đồ sộ, nhất là ở Bạch Liên tự. Khác với tượng Quan Âm sừng sững trước chánh điện Phật Tích Tòng Lâm, tượng Phật Thích Ca uy nghiêm trên tòa sen, tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn diệu kỳ của chùa Bạch Liên được đặt trong các bảo tượng đài. Riêng cụm tượng &quot;lục cảnh động tâm&quot; (cảnh Phật xuất gia, Phật thành đạo, Phật thuyết Pháp ...) tạo ra những Phật tích mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Tất cả các hạng mục công trình đều lấy màu trắng làm nền, tạo nên một vùng không gian thanh khiết. Vì sao không có gam màu vàng truyền thống của cảnh chùa chiền? Ni sư Thích nữ Như Linh, trụ trì chùa Bạch Liên nói rằng, khi còn là cư sĩ, ni sư rất thích bông sen trắng bởi nó là biểu tượng của tinh khiết, vô nhiễm của người chân tu. Về sau, khi hội đủ nhân duyên xây chùa, ni sư đặt tên là Bạch Liên là do vậy. Và cũng không ngờ, cụm tượng Phật tích màu trắng nguyên sơ ở đây đã làm cho Phật Tích Tòng Lâm trở nên độc đáo, có sức hấp dẫn về du lịch, văn hóa. Quả thật, vào những ngày cuối tuần và các dịp đại lễ, Bạch Liên tự ở Phật Tích Tòng Lâm thường là điểm tham gia của du khách. Đến đây, họ cảm thấy thư thái tâm hồn, để lại sau lưng những nỗi lo đời thường. </span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Như đóa sen trắng nổi lên giữa màu xanh mênh mông của nền trời, Phật Tích Tòng Lâm với ngôi chùa trắng trong rừng tòng làm tăng thêm sắc thái mỹ học trong nghệ thuật kiến trúc chùa ở miền đông Nam bộ.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Nguồn tin: ST</span></span></span></div></font></div></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh thắng Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 3:50 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.634</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh thắng Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 08:50:53 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=105</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Thắng cảnh Đá Chồng Định Quán</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=107</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2336E299B720468993D6984B011E2CFD>
<div class=ExternalClass174141D411D1481D8BFDE273C546D071>
<p style="text-align:justify"> </p>
<p>
<table style="border-collapse:separate" border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width=40 align=right>
<tbody>
<tr>
<td><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font color="#666666"> <img alt="" align=right src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/ViewImage.jpg" width=180 height=132></font></span></span></td></tr></tbody></table></p>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Khu danh thắng này cách thành phố Biên Hòa khoảng 50 km (31 miles). Từ ngã ba Dầu Giây (Đồng Nai) rẽ phải theo quốc lộ 20 hướng Đà Lạt, đến địa phận Định Quán du khách sẽ gặp một quần thể núi đá tạo dáng đẹp đẽ, kỳ lạ ven lộ. Đó là danh thắng Đá Chồng một cảnh đẹp nổi tiếng của tỉnh Đồng Nai và cũng là nơi khách nghiên cứu khảo cổ di chỉ văn hóa Óc Eo.</font></b></span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span></div>
<div><font size=2 face=Arial>
<p style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="letter-spacing:0.75pt;color:black">    Với ba hòn đá nằm chồng lên nhau khá chông chênh ở độ cao 36 m (108 ft) so với mặt đường, hòn Đá Chồng nằm sát quốc lộ 20 về hướng đông bắc như một tượng đ ài kỳ vĩ với gió sương. Hòn dưới cùng lớn gấp hai hòn nằm trên, hòn trên cùng thì nằm chìa ra phần nữa ngoài bên dưới như muốn đổ xuống bất kỳ lúc nào. Hình thù kỳ dị này đã làm ngạc nhiên biết bao du khách.</span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="letter-spacing:0.75pt;color:black">    Hòn Dìa nằm về phía tây bắc của quần thể Đá Chồng, là cụm núi có hình dạng rất độc đáo và đẹp mắt. Hòn Dìa có hình chữ nhật không đều, một đầu to, một đầu nhỏ nhưng lại nằm trên một tảng đá nhỏ hơn nhiều lần, ở độ cao 43 m (129 ft) so với mặt đất, cây cối mọc um tùm tạo nên những hang động đầy vẻ kỳ bí.</span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="letter-spacing:0.75pt;color:black">    Núi Đá Vôi còn gọi là núi Bạch Tượng, nằm về phía tây nam của khu thắng cảnh Đá Chồng, sau chùa Thiện Chơn 10 m (30 ft). Núi có hình 2 con voi lớn nằm cạnh nhau. Trên đỉnh hòn đá là Voi Đực có tượng Phật Thích Ca khổng lồ nhìn về hướng đông được xây và đặt vào đầu năm 1970. Dưới chân của Voi Đực có hang Bạch Hổ. Hòn đá kế bên gọi là Voi Cái. Từ hang Bạch Hổ con người đã tạo nên một hành lang tam cấp uốn theo núi Đá Voi để du khách có thể lên đỉnh của đá Voi Đực và từ đây du khách có thể phóng tầm mắt nhìn ra toàn cảnh của khu danh thắng, một cảnh quan thiên nhiên diễm lệ đa dạng đến tuyệt vời. Đan xen giữa những hòn núi đá là những thung lũng mênh mông thăm thẳm xanh mượt, lấp loáng những hồ nước và cả những dòng suối uốn lượn dưới chân đồi.</span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><em><span style="letter-spacing:0.75pt;color:black">Nguồn: Sách hướng dẫn du lịch Việt Nam</span></em><span style="letter-spacing:0.75pt;color:black"> </span></span></span></p></font></div></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh thắng Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 3:50 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.611</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh thắng Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 08:54:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=107</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=93</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass44A0169BB21649EB8A61B3029BEA8265>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đây là di tích lịch sử danh nhân có giá trị ở Đồng Nai, gồm hai phần: mộ và đền thờ. Phần mộ là nơi an táng Đoàn Văn Cự, thủ lĩnh hội kín Thiên Địa hội ở Biên Hoà và 16 nghĩa binh tử vong trong trận tấn công của Pháp vào bưng Kiệu năm 1905. Đây cũng là nơi mà lúc sinh tiền Đoàn Văn Cự xây dựng căn cứ kháng chiến. Mộ tọa lạc trên khu bình địa tổng kho Long Bình, phường Long Bình, cách trung tâm thành phố Biên Hoà 8km đường chim bay. Nguyên thủy chỉ là nấm mồ chôn cất đơn sơ, năm 1956 và 1990 được nhân dân trùng tu lại theo lối xây cất mới. Mộ hình chữ nhật, dài 16,5m; rộng 2m; cao 0,5-0,75m. Phía sau là ngôi miếu nhỏ thờ hương hồn Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, bài trí đơn giản. Khu mộ được bảo vệ bởi hai vòng rào bằng gạch, có cổng ra vào. Gần như bao quanh khu mộ là dòng Linh Tuyền, tiếng nước róc rách suốt ngày đêm đưa hồn các tử sĩ vào cõi vĩnh hằng. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div>Tại phường Tam Hiệp, trên Quốc lộ 15, một ngôi đình cũng được xây cất từ năm 1956 làm chỗ thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, cách phần mộ khoảng 1km về hướng đông bắc 64 độ. Đền tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, rộng 3.000m<sup>2</sup>, kiến trúc theo kiểu chữ tam (三), gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện.</div>
<div>Nhà võ ca chiếm diện tích 303,75m<sup>2</sup>, đối diện với đền thờ chính. Bên trong có sân khấu nhỏ dùng để hát bội trong những dịp lễ đền. Mặt sân khấu đối diện với chánh điện.</div>
<div>Trước khi vào chánh điện phải qua nhà bái. Đây là nơi khách thập phương ra vào hành lễ, diện tích 75,465m<sup>2</sup>, mái lợp ngói móc, nền cao 0,5m xây bằng đá ong lót gạch bông, được chia làm ba gian, mỗi gian đều có bàn hương án. Trước đền có cặp lý ngư hoá long chầu mặt trời, biểu tượng cuốn thư cây giáo, hai bên là hai con rồng bằng gốm men xanh.</div>
<div>Nối tiếp nhà bái là chánh điện, diện tích 129,87m<sup>2</sup> gồm bốn mái lợp ngói móc, trên nóc có cặp rồng chầu pháp lam, chia thành ba gian bởi những hàng cột gỗ sao, trên cột đều có liễn đối. Gian chính giữa thờ thần, bàn hương án bằng gỗ khắc chạm rồng chầu mặt trời, chim muông... được sơn son thếp vàng, hai bên là hàng bát bửu. Hai gian bên thờ tả hữu ban liệt vị. Dọc mặt tường tả hữu thờ Tiền hiền, Bạch mã, Tiên sư, Thổ công.</div>
<div>Phía sau chánh điện là nhà khách và nhà bếp. Nơi đây dùng để tiếp khách và nấu ăn trong những ngày lễ trọng.</div>
<div>Đáo lệ hàng năm, đến ngày 8 tháng 4 âm lịch, nhân dân địa phương thiết lễ giỗ bằng một độ tế rất long trọng, tưởng nhớ hùng khí của Đoàn Văn Cự và 16 tử sĩ vì đại cuộc xả thân.</div>
<div>Đoàn Văn Cự lãnh đạo hội kín <i>Thiên Địa hội</i> ở Biên Hoà, một tổ chức yêu nước chống ách thống trị của thực dân Pháp. Ông đã quy tụ được đông đảo lực lượng nghĩa quân tiến hành cuộc kháng chiến thời kỳ trước khi Đảng Cộng Sản ra đời. Tuy bị thực dân Pháp nhanh chóng dập tắt nhưng hoạt động của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng ở vùng miền Đông Nam bộ trong những thập niên đầu thế kỷ XX.</div>
<div><i>Thiên Địa hội</i> vốn là một tổ chức vừa có tính chất tương tế, vừa có tính chất chính trị của nông dân Trung Quốc, được hình thành từ sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ, khẩu hiệu chính trị là “Bài Mãn phục Minh”.</div>
<div>Cuối thế kỷ XX, tổ chức <i>Thiên Địa hội</i> hoạt động khá mạnh ở thành thị và nông thôn Nam kỳ lục tỉnh, nhờ vào việc phát triển thương mại. Bấy giờ Nam kỳ có nhiều hội yêu nước của nhân dân rất bí mật, báo chí gọi là “hội kín”, về sau gọi là <i>Thiên Địa hội</i>. Thật ra, các hội đó không mang một tên thống nhất nào, mà có nhiều tên gọi khác nhau. Hội hoạt động riêng lẻ, liên lạc ngang với nhau, khi có điều kiện thì kết hợp thành hệ thống dọc như một lực lượng yêu nước mạnh mẽ. Mục đích là đánh đuổi ngoại bang, giành độc lập, thiết lập chế độ quân chủ, khẩu hiệu đấu tranh là “Bài Pháp phục Nam”. Hình thức đấu tranh là bạo động. Các tổ chức này còn chịu ảnh hưởng sâu của hệ tư tưởng và đạo đức phong kiến pha màu thần bí.</div>
<div>Vốn giàu lòng yêu nước, nhân dân Nam kỳ lục tỉnh đã nhanh chóng biến hội kín thành hình thức hoạt động khá phổ biến để đấu tranh quyết liệt với giặc vào cuối thế kỷ XIX đầu những thập niên thế kỷ XX.</div>
<div>Trong tình hình chung của phong trào Nam bộ lúc bấy giờ, nhân dân Biên Hoà hưởng ứng nhiệt thành phong trào chống Pháp của <i>Thiên Địa hội</i>, mở đầu là tổ chức hội kín của Đoàn Văn Cự tại vùng bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu.</div>
<div>Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh Biên Hoà (nay là quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) trong gia đình nho học yêu nước. Bị Pháp và bọn tay chân theo dõi, ông lánh giặc đến tá ngụ ở bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu (nay là phường Long Bình, thành phố Biên Hoà) mưu đồ đại sự. Ngụy trang dưới nghề dạy học, cắt thuốc kiêm coi bói, ông ngấm ngầm tập hợp lực lượng, tích trữ vũ khí, lương thảo. Đội ngũ chống Pháp của ông rải khắp cả miền Đông Nam kỳ, đông nhất là Chợ Đồn, Chợ Chiếu (Cù Lao Phố), Bình Đa, Vĩnh Cửu đến núi Nứa (Bà Rịa). Lực lượng ngày càng hùng hậu, hoạt động của ông dần đến chỗ công khai nơi bưng rừng khuất tịch. Tất nhiên không tránh khỏi sự dòm ngó, theo dõi của chính quyền thực dân.</div>
<div>Để ngăn chặn ảnh hưởng và dập tắt phong trào ngay từ trong trứng nước, sáng ngày 12 - 4 -1905 (dương lịch), một tiểu đội lính mã tà do tên sen đầm chỉ huy kéo xuống bao vây căn cứ bưng Kiệu. Đoàn Văn Cự bố trí nghĩa quân do các tướng Hoàng Mè, Hoàng Giáp chỉ huy chuẩn bị đón đánh giặc. Phục binh cả ngày mà không thấy giặc động tĩnh, đến chiều tối, ông ra lệnh cho nghĩa quân về ăn cơm. Đúng lúc không còn quân canh phòng, giặc Pháp rầm rộ kéo đến, một toán quân khá đông bao vây nhà ông. Tên quan ba cùng tốp lính vượt suối Linh tiến vào. Đến ngưỡng cửa, chúng gặp ông trong bộ chiến phục oai nghi: đầu chít khăn lụa điều, mình buộc thắt lưng màu hồng, giắt đoản đao đầu hổ. Thấy địch, ông vung đao chém tên quan ba Pháp bị thương. Hắn rút súng bắn lại, Đoàn Văn Cự trúng đạn hy sinh trước bàn thờ Tổ. Lúc bấy giờ, đã bảy mươi tuổi mà tướng mạo ông hãy còn phương phi, nằm chết trên vũng máu với vẻ hiên ngang của một trang võ tướng.</div>
<div>Pháp xả súng vào căn cứ nghĩa quân, đốt phá lương thực. Thêm 16 người bị trúng đạn chết trong cơn tán loạn. Hôm sau, dân làng an táng 17 liệt sĩ vào ngôi mộ chung.</div>
<div>Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 722/QĐ - BVHTT, ngày 25 - 4 - 1998.</div>
<div>Dẫu thời gian đã trôi qua, tấm gương can liệt của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa sĩ vẫn sáng mãi với khí thiêng sông núi, góp phần làm rạng rỡ “hào khí Đồng Nai”. Họ mất đi mà anh linh vẫn còn phảng phất trong tâm trí của người dân Biên Hoà nặng lòng hoài cổ.</div>
<div align=right><b>Nguyễn Tuyết Hồng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.251</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:24:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=93</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Lăng mộ Trịnh Hoài Đức</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=92</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1749A48413A2437A8057450D732D9A88>
<div><b><font color="#666666" size=2>Lăng mộ Trịnh Hoài Đức nằm ở địa phận phường Trung Dũng, thành phố Biên Hoà. Người dân địa phương quen gọi là “lăng Ông”. Từ bùng binh Biên Hùng của trung tâm thành phố Biên Hoà, theo Quốc lộ I, hướng đông bắc khoảng 300 mét, rẽ vào hẻm 39 (còn gọi là hẻm Đường Rầy –trước đây, một nhánh của tuyến đường từ ga thẳng đến sân bay Biên Hoà) ta sẽ đến được di tích. Nằm trong khu vực của khu phố 3, phường Trung Dũng có rất nhiều ngôi mộ cổ, được xây bằng đá ong tô hợp chất, xung quanh lăng Ông, nhiều người cho rằng, trước kia đây là khu mộ của họ tộc Trịnh Hoài Đức. Dưới thời Nguyễn, mộ Trịnh Hoài Đức thuộc thôn Bình Trúc, dinh Trấn Biên. Thời Pháp thuộc, địa danh Bình Trúc được đổi thành Bình Trước, thuộc quận Châu Thành, tỉnh Biên Hoà. Trường Viễn Đông Bác cổ đã xếp mộ Trịnh Hoài Đức là di tích vào năm 1938 </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ Nhiều ngôi mộ của họ tộc Trịnh Hoài Đức nằm rải rác trên khu đất khoảng 3 héc ta, xen lẫn với nhà dân, các con đường mòn nhỏ. Các ngôi mộ đều xây theo lối hình voi phục, mặt bằng dạng khối hình chữ nhật; các bia đá khắc chữ Hán hướng về phía tây nam, tường phủ rêu xanh. Trong toàn khu mộ họ Trịnh, mộ Trịnh Hoài Đức nổi bật lên bởi quy mô của kiến trúc, có lẽ đây là chủ ý của những người dựng mộ trong phép tắc của người xưa về dòng họ. 
<div> Trước khi được trùng tu, tôn tạo năm 1998 (nhân dịp kỷ niệm vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển), mộ Trịnh Hoài Đức nằm khuất trong khu đông dân cư. Trước năm 1975, đáo lệ hằng năm vào lễ Thanh minh, con cháu Trịnh Hoài Đức từ các địa phương khác đến cúng viếng với nghi lễ rất trang trọng. Về sau, có lẽ do một số con cháu trong thân tộc họ Trịnh đã lớn tuổi hay lưu lạc mà các lễ viếng không còn duy trì như trước.</div>
<div> Hiện nay, mộ Trịnh Hoài Đức tọa lạc trên chu vi đất rộng với cảnh quan được tôn tạo mới, khang trang hơn trước rất nhiều. Những ngôi nhà dân trong phạm vi của di tích được giải toả, di tích được bảo vệ bởi hàng rào, tường bao chu đáo. Kiến trúc mộ ban đầu được bảo tồn. Nguyên thủy, mộ xây bằng đá ong tô hợp chất, xung quanh có vòng thành kiên cố. Phía sau mộ có bức tường nhô cao, nối vòng thành dạng hình bầu dục lượn sóng. Trên bức tường có khắc các dòng chữ Hán tựa như bài thơ ca ngợi tài đức của Trịnh Hoài Đức nhưng lâu ngày bị mờ, không còn đọc được, hai bên trang trí hình hai đầu rồng cách điệu. Hiện nay, trên bức tường rộng này được trang trí hình long ẩn vân. Phía trước cửa vào mộ có tấm bình phong lớn, ghi khắc tiểu sử và sự nghiệp của Trịnh Hoài Đức. Trên những cột vuông nối các góc bờ vòng thành trước mộ có khắc những câu đối chữ Hán, nội dung chủ yếu nói về sự học, một cách chủ ý đề cập đến sự uyên bác trên bình diện nghiên cứu của Trịnh Hoài Đức. Trong vòng thành là thành tố chính của kiến trúc, gồm hai phần mộ: một của Trịnh Hoài Đức và một của chánh thất phu nhân, người họ Lê. Cấu kết mộ giống nhau, hình voi phục, xung quanh có gờ hình móng ngựa. Phía trước mỗi phần mộ đều có bia đá, khắc chữ Hán; chung quanh trang trí bởi các đường hồi văn, biểu tượng âm dương, phía dưới đắp nổi dạng chân quỳ. Nội dung các bia ở hai phần mộ Trịnh Hoài Đức nêu vắn tắt các danh, chức, phẩm hàm mà Trịnh Hoài Đức được ban tặng, cùng người vợ của ông; đồng thời có ghi cụ thể thời gian là tháng 11 năm Ất Dậu, con cái là Trịnh Thiên Lễ Nhiên, Trịnh Thiên Nhiên Bảo, Trịnh Thiên Bảo cùng lập bia.</div>
<div>Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765 (Ất Dậu). Ông còn có tên là An, tự Chỉ Sơn, hiệu là Cấn Trai. Tổ tiên ông là người Phúc Kiến, Trung Hoa, nối đời làm quan. Đến đời ông nội Trịnh Hoài Đức, nhà Mãn Thanh nổi lên thay nhà Minh, vì bất hợp tác với tân triều, gia đình ông sang cư ngụ ở Việt Nam. Thân sinh Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh. Ông nổi tiếng ham học, giỏi về thư pháp và có tiếng là cao cờ. Trịnh Khánh kết duyên với cô gái Việt. Trịnh Hoài Đức mồ côi cha từ khi 10 tuổi. Để tránh loạn lạc, mẹ ông từ Qui Nhơn dời nhà đến vùng Phiên Trấn lập nghiệp. Tại đây, Trịnh Hoài Đức được mẹ cho đến thụ giáo thầy Võ Tường Toản, một nhà nho thuần hậu, đạo cao đức trọng nổi tiếng thời bấy giờ. Trịnh Hoài Đức chăm học, kết bạn với Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh. Cả ba người sau này trở thành những vì sao lấp lánh trời Nam, được mệnh danh là Gia Định Tam gia. Năm 1788, Nguyễn Ánh mở khoa thi ở Gia Định, cả ba ông ra ứng thí và đỗ đạt.</div>
<div> Trịnh Hoài Đức được bổ nhiệm và lần lượt giữ chức Hàn Lâm viện Chế cáo, Điền Tuấn sứ huyện Tân Bình. Năm 1793, ông được sung chức Thị giảng Đông cung (Hoàng tử Cảnh) và dần được thăng lên Tham tri Hộ bộ, coi việc quân lương. Vào năm 1802, Trịnh Hoài Đức được thăng Thượng thư Hộ bộ cùng Ngô Nhơn Tĩnh, Huỳnh Ngọc Uẩn đi sứ Trung Hoa. Năm 1805, Trịnh Hoài Đức nhậm chức Hiệp lưu trấn Gia Định rồi Hiệp tổng trấn vào năm 1808. Tháng 12 năm 1813, Trịnh Hoài Đức từ cương vị Thượng thư Lễ bộ được thăng làm Thượng thư Lại bộ. Năm 1816, Trịnh Hoài Đức lại được giữ chức Hiệp tổng trấn Gia Định. Khi Nguyễn Ánh mất, Minh Mạng lên thay vào năm 1820, Trịnh Hoài Đức được vua triệu về kinh phong làm Phó Tổng tài ở Quốc sử quán, rồi thăng Hiệp biện Đại học sĩ, trật Tòng nhất phẩm, lãnh Thượng thư Lại bộ, kiêm lãnh Thượng thư Binh bộ. Trịnh Hoài Đức với kiến thức sâu rộng, đức độ khiến kẻ sĩ ngưỡng mộ được cử làm chủ khảo nhiều kỳ thi do triều đình mở.</div>
<div> Trịnh Hoài Đức sau 40 năm làm quan được xem như bậc khai quốc công thần, tước lộc đứng đầu triều đình nhưng quen cảnh sống thanh bạch, kiệm ước, gần cuối đời cũng không có ngôi nhà riêng. Đến năm 1823, Trịnh Hoài Đức vì tuổi già, lâm bệnh, dâng biểu xin nghỉ việc. Vua Minh Mạng lệnh cho trích kho 2000 quan tiền và gỗ, gạch, ngói làm nhà, đồng thời ban sâm quế cho Trịnh Hoài Đức để nghỉ ngơi, điều trị bệnh. Mùa thu năm 1824, Trịnh Hoài Đức được vua Minh Mạng sung chức Tổng tài biên sửa Nguyễn Triều Ngọc Điệp và Tôn Phả, rồi kiêm lãnh công việc nhà Thương bạc.</div>
<div><b> </b>Con đường thăng tiến của Trịnh Hoài Đức một mặt thể hiện sự sủng ái của vua, tín nhiệm của triều đình đồng thời nói lên tài năng và nhân cách của ông trong thời bấy giờ.</div>
<div> Mùa xuân năm 1825, sau một thời gian lâm bệnh, Trịnh Hoài Đức mất, thọ 61 tuổi. Vua Minh Mạng thương tiếc, sai nghỉ triều ba ngày, truy tặng ông chức Thiếu bảo, Cần Chánh điện Đại học sĩ, ban tên thụy là Văn Khác; phái hoàng thân Miên Hoằng thân hành tế lễ và đưa linh cữu Trịnh Hoài Đức về Nam theo nguyện vọng của ông. Linh cữu của Trịnh Hoài Đức về đến Phiên Trấn, Tổng trấn Lê Văn Duyệt thân hành phúng viếng rồi hộ linh cữu ôngvề chôn cất nơi quê mẹ là làng Bình Trước, Biên Hoà.</div>
<div> Năm 1852, bài vị Trịnh Hoài Đức được đưa vào thờ ở Trung hưng công thần miếu và đưa vào thờ ở đền Hiền lương năm 1858.</div>
<div> Trên bước đường công danh, Trịnh Hoài Đức đã lên gần tuyệt đỉnh. Ông là một con người tài đức vẹn toàn, được vua tin yêu, quần thần ngưỡng vọng. Dù ở chức quan cao cực phẩm nhưng Trịnh Hoài Đức vẫn sống giản dị, thanh cao, chỉ biết quên mình lo việc ích nước, lợi dân. Về phương diện văn hoá, Trịnh Hoài Đức là nhà thơ, nhà viết sử lỗi lạc hàng đầu của thời Nguyễn Trung hưng. Trịnh Hoài Đức để lại cho hậu thế một kho tàng trước tác đồ sộ gồm thơ văn và các công trình nghiên cứu như: <i>Gia định thành thông chí, Cấn Trai thi tập...</i> Công trình khảo cứu <i>Gia Định thành thông chí </i>là bộ địa lý học – lịch sử giá trị trong kho tàng thư tịch cổ của nước ta. Bộ sách này ghi lại đầy đủ nhất, toàn diện nhất diện mạo xứ Đồng Nai – Gia Định trong thời kỳ khai phá, lập nghiệp của cư dân Việt.</div>
<div>Lăng mộ Trịnh Hoài Đức đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử theo Quyết định số 1539/QĐ, ngày 27 - 12 -1990.</div>
<div>Những thế hệ con dân xứ Biên Hoà - Đồng Nai luôn biết ơn và tự hào về Trịnh Hoài Đức, một tài năng lớn, một nhân cách lớn đã góp phần đặt nền móng cho một vùng hào khí Đồng Nai – văn hóa Đồng Nai.</div>
<div align=right><b>Đỗ Bá Nghiệp - Phan Đình Dũng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.927</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:23:59 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=92</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chùa Đại Giác và những chuyện tích: 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai (1698-2008)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=99</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE4CD3F04103949ABB76B2DACF8634C65>
<div class=ExternalClassA2C9EE867AB94A0182607EFB3E48A75E>
<p style="text-align:center"> </p>
<div><span style="color:#666666"><strong>
<p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062410_0325_ChaiGicv1.png"></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"> </p><span style="font-family:Arial">
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small">Hiện nay, trên địa bàn Biên Hòa có nhiều ngôi chùa vốn được tạo dựng khá sớm, trong đó có chùa Đại Giác tọa lạc ở vùng Cù lao Phố (nay thuộc xã Hiệp Hòa). Đây là một trong những cơ sở tín ngưỡng được liệt hạng vào danh mục di tích lịch sử cấp quốc gia.</span></p></span></strong></span></div>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black"><strong><em>           </em></strong>Kiến trúc chính hiện tồn của di tích theo lối chữ nhị và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Kiểu thức kiến trúc mặt tiền với lầu trống, lầu chuông nhô cao. Phần chánh điện có không gian thoáng rộng với sự bài trí của một tập hợp tượng thờ đa dạng. Đặc biệt, ở điện thờ chính có tượng Phật lớn so với các chùa trên địa bàn Đồng Nai. Nội thất kiến trúc có nhiều bức hoành phi, câu đối. Nhà sư Thành Đẳng phái Lâm Tê đời 34 được xem là người khai sơn ngôi chùa này.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black">Trong lịch sử của vùng Biên Hòa, chùa Đại Giác gắn với những sự kiện được sử sách ghi chép: Vào năm 1779, trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, người con gái của Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) đến nương náu và thoát nạn. Khi Nguyễn Ánh lập nên thanh thế, xưng vương đã nhớ đến và ban chỉ cho trùng tu chùa. Vua đã sai cho binh thợ đến giúp việc xây cất, cho tượng binh đến dặm nền vì thế chùa còn có tên là chùa Tượng. Trong dịp trùng tu, vua cúng chùa một pho tượng Phật bằng gỗ mít lớn nên chùa còn có tên là chùa Phật lớn. Đời vua Minh Mạng cũng quan tâm và tiếp tục cho tu sửa chùa. Một công chúa của nhà Nguyễn cúng chùa tấm biển &quot;Đại Giác tự&quot; sơn son thếp vàng, bên phải có khắc: &quot;Tiên triều Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh&quot;. Tiếc thay, tấm biển này không còn nữa bởi những kẻ coi trọng sự tham lam hơn lòng thành chốn cửa thiền lấy mất. Ngày nay, một tấm biển với nội dung của công chúa tặng ngày trước treo ở di tích chỉ là &quot;bản sao&quot; như gợi nhớ về một người thuộc dòng Hoàng gia công đức cho chùa.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black">Tương truyền, di tích chùa Đại Giác còn gắn với chuyện tình cảm đầy sắc thái của một phụ nữ xuất thân từ Hoàng gia nhà Nguyễn. Chuyện kể thì dài nhưng chung quy ở cái cách xử sự đầy cảm động của những người trong cuộc. Nhà sư Thiệt Thành là người tài đức từng được vua Gia Long triệu ra kinh đô làm Tăng cang chùa Thiên Mụ. Một phụ nữ hoàng gia cảm phục rồi đem lòng yêu mến nhà sư. Dù chính thân đã đạt được sự uyên thâm trong đạo pháp nhưng nhà sư vẫn lo tránh những sắc trần có thể làm day dứt tâm cang trước sợi dây luyến ái mà người phụ nữ đeo đuổi. Nhà sư từ biệt nơi kinh thành trở về Gia Định và sau đó là Biên Hòa, nhập thất tại chùa Đại Giác. Trong một lần vào Gia Định rồi đến Biên Hòa với chủ tâm gặp cho được nhà sư, Hoàng cô nhà Nguyễn đã quỳ gối, nài nỉ trước tịnh thất của chùa. Nhiều lần như thế với sự nài nỉ của Hoàng cô nhìn thấy bàn tay của nhà sư trước khi tạm biệt về kinh thành, nhà sư cảm động đã đưa bàn tay của mình qua ô cửa nhỏ cho Hoàng cô cầm lấy. Người phụ nữ ôm lấy bàn tay nhà sư một cách trìu mến. Đêm đó, giữa canh ba, trong khi mọi người đang an giấc, bỗng lửa cháy rực lên ở tịnh thất nơi nhà sư đang trú. Mọi người hoảng hốt cùng nhau dập lửa nhưng đã muộn. Tịnh thất cháy và xác thân của nhà sư cũng hóa theo. Sau này, người ta phát hiện một bài kệ của nhà sư trên vách chùa: &quot;Thiệt đức rèn kinh vẹn kiếp trần. Thành không vẩn đục vẫn trong ngần. Liễu tri mộng huyễn chơn như huyễn. Đạo mình mình vui đạo mấy lần&quot;. Hay tin nhà sư viên tịch, Hoàng cô cũng đã tự quyết định số phận của mình bằng một liều thuốc đắng.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black">Câu chuyện nơi cửa Phật vẫn còn những đoạn kết khá kỳ thú xung quanh một số bài vị của nhà sư và Hoàng cô thờ tại chùa Sắc tứ Từ Ân. Sức mạnh của tình yêu con người, sức mạnh của niềm tin Phật pháp trong câu chuyện như vẫn còn nhắc nhở cho hậu thế những bài học đầy cảm động.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black">Dấu tích kiến trúc xưa của chùa Đại Giác không còn được bảo lưu qua các lần trùng tu trước đây. Kiến trúc hiện tồn được xem như nét chấm phá làm đa dạng cho kiến trúc của chùa chiền Biên Hòa - Đồng Nai, phản ánh những bước phát triển nhiều mặt của xã hội. Với lịch sử khai sơn khá sớm, chùa Đại Giác là một trong những di tích lịch sử cho sự phát triển của vùng Biên Hòa - Đồng Nai.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black"><strong>Phan Đình Dũng</strong></span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black"><strong><em>        Theo Báo Đồng Nai</em> </strong></span></span></span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:25 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.849</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:28:56 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=99</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đền thờ Nguyễn Tri Phương</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=88</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassEC786BFD32EF4467B9854498FC88F1AB>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đền thờ Nguyễn Tri Phương tọa lạc bên hữu ngạn sông Đồng Nai thuộc địa phận phường Bửu Hoà, thành phố Biên Hoà (nguyên trước kia là làng Mỹ Khánh, dinh Trấn Biên). Xung quanh ngôi đình là cảnh cây, sông nước hữu tình, phía trước có rừng dương liễu ngày đêm vờn gió vi vu, phía trên có đường thiên lý Bắc - Nam (Quốc lộ I cũ) vượt qua sông Đồng Nai bằng cầu Gành, bao bọc phía sau là cả vành đai khu dân cư với vườn cây trái sum suê. Đền thờ Nguyễn Tri Phương như sống giữa vòng tay ấm áp niềm tin yêu kính trọng của người dân Biên Hoà - Đồng Nai. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div> </div>
<div>Hiện hữu trong một không gian thoáng rộng nên thơ, đồng hành với thời gian nhiều biến cố, đền thờ Nguyễn Tri Phương trở thành một ấn tích đẹp đẽ, một biểu tượng thiêng liêng của con người Đồng Nai vốn có truyền thống thủy chung với tổ tiên. Tại đây, có ngôi miếu nhỏ tên là Mỹ Khánh đình được nhân dân địa phương dựng nên để thờ thần Thành hoàng bổn cảnh cầu xin mưa gió thuận hoà, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đến khoảng đầu thế kỷ XIX (1803), ngôi miếu được nhân dân sở tại xây dựng thành ngôi đền. Từ đó đến nay, ngôi đền đã nhiều lần được trùng tu và trở nên khang trang như hiện nay.</div>
<div>Tương truyền, vào năm 1861, nhân dân địa phương có thờ cụ Tán lý Định Biên Nguyễn Duy – một tướng tài được triều đình Nguyễn cử vào lo việc chống quân Pháp xâm lược. Trong trận đánh giặc Pháp tấn công đồn Chí Hoà, Nguyễn Duy tử trận “thi hài tan nát không phân biệt được, có người nhận ra dấu áo và đai lưng của ông bèn đem về chôn tạm ngoài cửa Đông thành Biên Hoà”. Về sau, vua Tự Đức giao cho danh tướng Nguyễn Tri Phương (anh ruột của Nguyễn Duy) đích thân trông coi việc cải táng, đưa quan cữu của Nguyễn Duy về quê Đường Long an táng. Sau khi cải táng, nhân dân Biên Hoà đắp lại chỗ cũ một ngôi mộ để thờ.</div>
<div>Năm 1873, khi danh tướng Nguyễn Tri Phương mất, để tỏ lòng ngưỡng mộ và thương tiếc vị anh hùng đã có công trong việc di dân lập ấp, mở mang lãnh thổ Đàng Trong, cùng với Nguyễn Duy làm vẻ vang thêm trang sử Biên Hoà, nhân dân tạc tượng Nguyễn Tri Phương và thờ ông tại đình. Từ đó, Mỹ Khánh đình được gọi là đền thờ Nguyễn Tri Phương.</div>
<div>Đứng ở phía tây của cầu Gành vượt qua sông Đồng Nai, nhìn xuống phía hữu ngạn, ta sẽ thấy một bức tranh hoành tráng mỹ lệ lung linh giữa trời nước mênh mông. Ngôi đền toạ lạc trên một khu đất rộng (khoảng 2.500m<sup>2</sup>), khá bằng phẳng, in bóng xuống dòng sông Đồng Nai giữa những cây cổ thụ và khu dân cư đông đúc. Mặt trước của đền nhìn ra sông Đồng Nai, theo hướng đông bắc. Bờ bên kia, Cù Lao Phố sầm uất với những vườn cây trái xanh tươi. Trước đền có khoảng sân rộng tráng xi măng, hai bên có bàn thờ Thần Nông và Đài chiến sĩ. Đền thờ Nguyễn Tri Phương được xây dựng theo lối kiến trúc hình chữ công (工) gồm ba phần: tiền đình, chánh điện và nhà khách. Xung quanh đền có hàng rào bảo vệ xây bằng gạch khá vững chắc. Họ tộc Nguyễn Tri tại Thành phố Hồ Chí Minh đã dựng bia khắc ghi công trạng của Nguyễn Tri Phương dựng trước sân đình.</div>
<div>Đền có diện tích 500 m<sup>2</sup>, mái lợp ngói vảy cá. Mặt trước của đền được đắp nổi với dòng chữ: <i>Mỹ Khánh đình</i> bằng chữ Hán và hai bên là cặp lý ngư hóa long, nhật nguyệt. Trên đỉnh cao của chánh điện trang trí hình lưỡng long tranh châu, hai bên có cặp phụng nghinh bằng gốm men xanh. Từ ngoài nhìn vào ta thấy sự uy nghi bề thế của ngôi đền. Ở giữa là các tấm bao lam bằng gỗ được điêu khắc đề tài hoa điểu, tứ linh rất công phu. Các bức liễn và hoành phi khắc chữ Hán, sơn son thếp vàng treo khắp cột và xà ngang theo chiều dài khu chánh điện. Trên hương án thờ thần, sự hiện diện của bộ áo mão, tương truyền vua ban cho Nguyễn Tri Phương khi đi kinh lược cùng bộ bát bửu bằng đồng đặt thẳng hai bên hàng cột chính làm tăng thêm sự trang nghiêm nơi tôn thờ.</div>
<div>Chánh điện của đền ngày đêm nhang khói nghi ngút, hai bên thờ tả ban, hữu ban liệt vị... Bàn hương án có điểm khắc lưỡng long triều nhật, mô típ hoa văn dây, hoa, lá được cách điệu rất tinh tế. Bàn La liệt bằng đá. Trước bàn thờ có đặt ngai gỗ chạm khắc tả hình đầu rồng, long vân sơn son thếp vàng tinh xảo. Chánh điện có tượng Nguyễn Tri Phương được tạc khắc bằng gỗ. Tương truyền, một bô lão ở địa phương nằm mộng thấy Đức Ông Nguyễn Tri Phương hiện về với áo mão lẫm liệt, vũ khí trong tay oai hùng, bèn chặt cây mít trước nhà tự tay tạc như hình trong mộng. Đó là bức tượng chính của đền hiện nay, cũng cần nói rõ tác giả bức tượng không hề là nhà điêu khắc.</div>
<div>Đền thờ Nguyễn Tri Phương đã được Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao xếp loại di tích lịch sử cấp quốc gia, theo Quyết định số 97/QĐ, ngày 21 - 1 - 1992.</div>
<div>Đền thờ Nguyễn Tri Phương luôn được nhân dân địa phương và Ban quí tế trông coi gìn giữ ngăn nắp, sạch sẽ. Vào các ngày lễ, hội bao thiện tâm tín hữu tụ họp về đền dâng hương cầu phúc. Hàng năm, đền tổ chức lễ Kỳ yên rất long trọng. Lễ được tiến hành vào ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch. Lễ Kỳ yên được chuẩn bị rất chu đáo. Trước khi hành lễ, các vị hương chức lớn nhỏ đều hội tại đền để yết kiến thần thánh. Đến tối lễ bắt đầu từ lúc trăng lên cũng là khi con nước bắt đầu lớn. Lễ kéo dài trong hai ngày với những nghi thức tiến thần, diễn hành lễ bộ, tống phong... rất độc đáo và đẹp mắt. Dân trong làng cùng các nơi xa gần cùng các ban quí tế đình, đền trong vùng đến dự.</div>
<div>Trước anh linh ông, những người đến với lễ Kỳ yên như thoát khỏi bề bộn lo âu của đời thường, lòng người hướng về sự thanh cao, thiêng liêng, tưởng nhớ công lao, đức trọng của Nguyễn Tri Phương, tôn thờ ông là vị phúc thần của làng xã.</div>
<div>Với danh nhân Nguyễn Tri Phương, tài năng đức độ, cuộc đời và khí tiết của ông vẫn mãi sống toàn vẹn trong niềm tin kính của con người Đồng Nai. Một phần cuộc đời Nguyễn Tri Phương gắn với mảnh đất Biên Hoà nhưng sự đóng góp của ông rất quan trọng. Trang sử vẻ vang chống thực dân Pháp xâm lược trên mảnh đất thiêng này vinh dự gắn liền với tên tuổi Nguyễn Tri Phương.</div>
<div>Tháng 2 -1861, khi Gia Định thất thủ, đại bộ phận quân ta rút về lập tuyến phòng ngự ở Biên Hoà. Nguyễn Tri Phương đã củng cố trận tuyến phòng thủ và cho quân trấn giữ các nơi xung yếu. Ông cho quân đắp lũy ở Tân Hoa, Trúc Giang, Sông Ký, củng cố lũy Đông Giang, Phước Tứ và Đồng Môn. Ở pháo đài Phước Thắng và cửa Cần Giờ, ông điều quân canh giữ mặt biển. Trên sông Đồng Nai, Nguyễn Tri Phương cho đắp cản bằng đá ong để ngăn chặn tàu thuyền địch. Chỗ đắp cản quan trọng nhất là khúc sông Long Đại, độ phân nửa đường sông Nhà Bè – Biên Hoà. Hễ dưới sông có “cản” thì trên bờ có đồn lũy, bố trí đại bác. Một trong những bức tường cản còn lưu lại tới ngày nay là “cản” ở khúc sông trước đền thờ Nguyễn Tri Phương bây giờ.</div>
<div>Tương truyền khi Nguyễn Tri Phương rút quân về Biên Hoà, công việc phòng thủ đang gấp rút tiến hành thì triều đình có lệnh triệu hồi ông. Nhân dân Biên Hoà thương kính, tin yêu đã cản đầu ngựa, khẩn cầu ông ở lại đánh giặc cho đến cùng.</div>
<div>Sau đó, Nguyễn Tri Phương được triều đình điều ra trấn giữ thành Hà Nội. Trong một trận quyết chiến với kẻ thù, Nguyễn Tri Phương bị thương, con trai ông là Nguyễn Lâm hy sinh, thành Hà Nội bị thất thủ. Hòng mua chuộc ông, giặc Pháp đã đưa ông đi điều trị vết thương nhưng Nguyễn Tri Phương cương quyết cự tuyệt, hất bỏ thuốc men, cơm cháo, nêu cao tinh thần bất khuất, khí phách của mình. Ngày 20 -12 -1873 (tức 1 -11 - Ất Dậu), Nguyễn Tri Phương mất tại dinh Tổng đốc thành Hà Nội để lại niềm thương tiếc vô hạn đối với triều đình, binh sĩ và nhân dân. Sống oai hùng, chết oanh liệt, người dân Biên Hoà đã tôn vinh ông như một phúc thần tại đình Mỹ Khánh với niềm tin son sắt rằng chính ông làm cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà đem lại thịnh vượng cho xứ sở.</div>
<div>Sông Đồng Nai với những con nước rì rào vỗ bờ, rừng dương liễu trước đền vi vu mãi hát khúc anh hùng ca về những tấm gương quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.</div>
<div>Hơn một thế kỷ trôi qua, cùng với hồn thiêng sông núi, oai linh tướng quân Nguyễn Tri Phương như vẫn còn quanh đây trong suốt cuộc trường chinh đánh đuổi thực dân, đế quốc giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Khí phách anh hùng và tấm gương trung trinh của Nguyễn Tri Phương – cũng như nhiều thế hệ họ tộc của ông – đã làm chói loà đạo lý xả thân vì độc lập tự do cho Tổ quốc, mãi được lịch sử khắc ghi, là niềm kiêu hãnh của người dân Việt trong quá khứ, hiện tại và cho cả mai sau.</div>
<div align=right><b>Đỗ Bá Nghiệp - Phan Đình Dũng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.058</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:21:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=88</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đình Tân Lân</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=89</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassD66258E5BA684CCD9272A3CF487BD537>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đình Tân Lân, xưa kia thuộc thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên, nay là phường Hoà Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Đình toạ lạc giữa vùng dân cư trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền hướng ra dòng sông Đồng Nai lộng gió, cách trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh 500m về hướng tây bắc. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div>Từ khi xây dựng, nhân dân đã lấy tên gọi của thôn là Tân Lân (Xóm Mới) để đặt cho đình. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tên địa phương nhiều lần thay đổi nhưng tên đình vẫn tồn tại cùng tháng năm. Tương truyền, nguyên thủy đình Tân Lân là ngôi miếu nhỏ ở thành Kèn do dân làng dựng lên từ thời Minh Mạng (1820 -1840) để tỏ lòng ngưỡng vọng Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, người có công lớn trong việc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai - Gia Định. Sau hai lần dời chuyển (vào năm 1861 và 1906), ngôi đình ở vị trí hiện nay.</div>
<div>Toạ lạc trên khuôn viên đất rộng khoảng 3.000m<sup>2</sup>, đình Tân Lân bề thế, uy nghiêm với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Hoa. Khách đến tham quan sẽ nhận thấy sự trang nghiêm, đầy hưng thịnh của ngôi đình.</div>
<div>Mặt đình hướng về phía tây nam, được kiến trúc theo kiểu chữ tam (三) gồm ba gian: tiền đình, chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà và thờ Ông. Mái đình lợp ngói âm dương. Nền cao 60cm bằng đá xanh, lót gạch bông (20cm X 20cm). Bên trong đình, mỗi gian được bài trí điện thờ, hoành phi, câu đối, bao lam bằng gỗ do các nghệ nhân dân gian chạm trổ tinh vi, sắc sảo mang tính nghệ thuật cao. Các đề tài đều tượng trưng cho hạnh phúc, phồn vinh, tước lộc, công hầu... theo thông tục của người phương Đông.</div>
<div>Phần tiền đình có diện tích 75,5m<sup>2</sup>, bộ khung vì bằng gỗ, trên các xà ngang chạm khắc đề tài dơi, đào, hoa, lá... biểu tượng cho sự phước thọ, trường tồn. Trên nóc trang trí đề tài “Lưỡng long tranh châu nhật”, “Lý ngư hoá long”... biểu tượng cho sự thịnh vượng, như ý. Mặt tiền mái đình là cả một công trình nghệ thuật đặc sắc tô điểm cho nền trời xanh thoáng đãng. Hằng trăm tượng người, vật bằng gốm sứ men xanh thể hiện các đề tài cổ điển phương Đông một cách sinh động, tài hoa. Khó có ai ngờ rằng, gần một trăm năm qua, những “Bát tiên quá hải”, “Quan Công phò nhị tẩu”, những chuyện tích thời chiến quốc, nhật nguyệt, lân phụng... sống động trên mái ngói, thi gan với nắng mưa mà vẫn nguyên vẹn sắc màu và đường nét.</div>
<div>Phần chánh điện chiếm diện tích 487,5m<sup>2</sup>. Tôn nghiêm nhất là gian giữa với những hàng cột gỗ lim to dị thường, với tượng thần uy nghiêm ngự trên ngai sơn son thếp vàng, với những cặp chim trĩ, loan, phượng... bằng đồng đứng chầu trong tư thế duyên dáng và trang nghiêm. Trước bàn thờ thần là bàn La liệt, tiếp đến là bàn hội đồng nội. Song song với bàn La liệt và bàn hội đồng nội là hai bộ bát bửu bằng đồng. Hai gian bên thờ tả và hữu ban. Dọc tường tả hữu có các bệ thờ Thái Giám, Hậu Hiền, Bạch Mã và Tiền Hiền. Toàn bộ khung vì được làm bằng gỗ tốt, có cột chống ở giữa kiểu bình nước, được lắp ghép với kỹ thuật mộng chốt và gắn dầu rái đảm bảo độ bền vững cao.</div>
<div>Hậu cung có diện tích 120m<sup>2</sup> được chia thành ba gian, chính giữa thờ Tiên sư, hai bên thờ Tiền thứ Việt Nam và Tiền thứ Trung Hoa, được đặt trên bệ thờ bằng xi măng lót gạch men xanh.</div>
<div>Ngoài ra, sau đình còn có khu nhà bếp nối liền với hậu cung, kiến trúc đơn giản, là nơi nấu ăn của đình.</div>
<div>Những ai quan tâm đến mỹ thuật không thể không khâm phục bàn tay tài hoa của các nghệ nhân sáng tạo ngôi đình qua các tác phẩm điêu khắc đá, chạm khắc gỗ, phù điêu ghép sành, cẩn xà cừ, tượng sành kiểu Hoa Nam... trong đó ẩn chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc. Toàn bộ những mảng trang trí trên là sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn với yếu tố kiến trúc nghệ thuật đặc trưng vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Đây cũng là sản phẩm gần như cuối cùng của lớp nghệ nhân tài hoa bản địa.</div>
<div>Đình Tân Lân đã thể hiện được sự tôn nghiêm mà trữ tình, hoành tráng mà tinh xảo, xứng đáng với lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với “Đức Ông” Trần Thượng Xuyên.</div>
<div>Trần Thượng Xuyên tự Trần Thắng Tài, sinh vào năm nào không rõ và mất khoảng năm 1720 (ngày 23 - 10 Âm lịch)<sup>(<a title="" href="http://127.0.0.1:63395/help/topic/vn.dongnai.sdt.dongnaiditich/html/dnditich.html#_ftn3" name="_ftnref3"><span><span><span style="line-height:110%;font-size:14pt">[3]</span></span></span></a>)</sup> người tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nguyên là Tổng binh ba châu Cao-Lôi-Liêm dưới triều Minh.</div>
<div>Năm 1649, vương triều Minh sụp đổ. Năm 1679, sau khi phất cờ “Bài Mãn phục Minh” thất bại, ông đem hơn 3.000 quân thân tín cùng gia quyến trên 50 thuyền đến Đại Việt xin thuần phục. Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) chấp thuận cho vào khai khẩn xứ Đông Phố đang còn hoang sơ.</div>
<div>Ông đưa lực lượng của mình đến định cư tại vùng Nông Nại đại phố (địa phận Bàn Lân). Cùng nhóm lưu dân người Việt đến trước, ông và lực lượng của mình tiến hành khai khẩn quy mô lớn vùng đất màu mỡ phương Nam. Mặt khác, ông chiêu tập thương nhân người Hoa kiến thiết phố xá, tạo lập các cơ sở thương mại. Với biệt tài tổ chức, chẳng bao lâu Trần Thượng Xuyên đã biến vùng đất hoang sơ thành thị tứ buôn bán sầm uất, kinh tế phát triển nhanh chóng. Nông Nại đại phố (còn gọi là Cù Lao Phố) trở thành thương cảng phồn thịnh, là trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế vào bậc nhất phương Nam lúc bấy giờ.</div>
<div>Ông được lịch sử xác định như người có công lớn trong việc khai phá và xây dựng vùng đất Đồng Nai - Gia Định. Công đức to lớn của ông được nhân dân ghi tạc, tôn thờ, xem như vị thần đã khai sáng vùng đất này.</div>
<div>Về hoạt động quân sự, Trần Thượng Xuyên là một dũng tướng thao lược của chúa Nguyễn. Ông đã nhiều lần cầm binh đánh dẹp Cao Miên, giữ an bờ cõi, mở rộng biên cương nước Việt.</div>
<div>Khoảng đầu những năm 1690, ông cùng Mai Vạn Long đánh bắt được Nặc Ông Thu, chiếm ba lũy Cầu Nam, Nam Vang, Gò Bích. Năm 1700, ông cùng Nguyễn Hữu Cảnh tiến đánh vua Chân Lạp lần hai. Sau trận tiến công này, vùng đất Biên Trấn, Phiên Trấn, Định Tường, Long Hồ, An Giang đã được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong. Năm 1715, ông lại cùng với Nguyễn Cửu Phú đi đánh dẹp bọn Nặc Ông Thâm, hạ được thành La Bích.</div>
<div>Trần Thượng Xuyên mất ngày 23 tháng 10 âm lịch khoảng năm Canh Tý (1720) an táng tại mạn bắc dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).</div>
<div>Ghi nhớ công đức của Trần Thượng Xuyên, chúa Nguyễn đã ban danh hiệu cao quý “Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt”. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị đều phong ông làm “Thượng đẳng thần”. Để tỏ lòng ngưỡng mộ và đền đáp công ơn người đã có công tổ chức khai phá, mở mang vùng đất Đồng Nai - Gia Định, nhân dân hai nơi này đều lập đền thờ ông, khói hương không dứt.</div>
<div>Đình Tân Lân đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ, ngày 25 - 3 - 1991.</div>
<div>Hàng năm, nhân dân lấy ngày ông mất làm ngày giỗ trọng. Ngày ấy, đình Tân Lân nghi ngút khói hương, dập dìu khách thập phương trong nghi lễ cổ truyền.</div>
<div align=right><b>Nguyễn Tuyết Hồng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.890</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:22:15 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=89</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Di tích mộ cự thạch Hàng Gòn : Di tích - danh thắng Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=85</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass27BE18CEEB4C4CAA8510EA5CDE9C1985>
<div><b><font color="#666666" size=2 face=Arial>Mộ cổ Hàng Gòn không chỉ là di tích khảo cổ học duy nhất ở Đồng Nai được xếp hạng cấp quốc gia mà còn là loại hình mộ táng Domel độc đáo trong hệ thống di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam. Di tích hiện nay nằm ngay mặt tiền tỉnh lộ 2 (nay là quốc lộ 56 nối Long Khánh với Bà Rịa- Vũng Tàu), thuộc xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh. </font></b></div>
<div><font size=2 face=Arial>﻿ 
<table style="border-bottom:#dfdfdf 1px dashed;border-top:#dfdfdf 1px solid" id=NewsContent cellspacing=0 cellpadding=0>
<tbody>
<tr>
<td valign=top>
<div align=justify><span class=FontContent>
<table border=0 cellspacing=0 cellpadding=0>
<tbody>
<tr>
<td valign=top><span id=lbDetail>
<p align=justify><font size=2 face=Arial>Mộ cổ Hàng Gòn được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1927,khi mở đường liên tỉnh lộ số 2, một kiến trúc sư người Pháp tên là J.Bouchot đã phát hiện một tảng đá nhô cao từ dưới gốc cây cổ thụ và ông đã tiến hành khai quật vào tháng 4-1927 với mục đích tìm vàng và báu vật vì thế đã làm sai lệch vị trí gốc cấu thành di tích. Ông đã công bố kết quả nhiều lần vào những năm 1927, 1929. Sau các kết quả công bố của J.Bouchot, mộ cự thạch Hàng Gòn đã thu hút được sự chú ý và quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, trong đó có H.parmentier - chủ sự sở khảo cổ và các học giả Pháp như E.Grapardone; L. Malleret; SaurinEd; H. Pontain... Các nhà nghiên cứu từ Liên Xô (cũ), Đức, Bungari, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc và giới khảo học Việt Nam sau năm 1975 đã tổ chức nhiều đợt điều tra kiểm chứng mộ cự Thạch Hàng Gòn. Trong đó đáng chú ý nhất là các đợt điều tra khảo sát phối hợp của Ban khảo cổ học - Viện khoa học TP.Hồ Chí Minh với Phòng bảo tồn bảo tàng năm 1982; với Nhà bảo tàng năm 1991; 1996. Đặc biệt là sự phối hợp điều tra đào thám sát của trung tâm khảo cổ học vùng Nam bộ với ban quản lý di tích, danh thắng tỉnh Đồng Nai để phục vụ cho việc lập hồ sơ thiết kế trùng tu, khôi phục, tôn tạo di tích mộ cự thạch Hàng Gòn vào tháng 6-2006. <br><br>Trong hướng qui hoạch chung để phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, di tích mộ cự thạch Hàng Gòn sẽ trở thành một trong những điểm nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật các tộc người ở Đồng Nai của tiến trình lịch sử; một tour du lịch đầy hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước về hướng nam của thị xã Long Khánh.</font></p></span></td></tr></tbody></table></span></div></td></tr>
<tr>
<td>
<div class=FontTacGia align=right><span id=lbSource>Theo Báo Đồng Nai </span></div></td></tr></tbody></table></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:15 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.667</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:19:25 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=85</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đình An Hòa: Di tích lịch sử kiến trúc - nghệ thuật ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=83</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass85368661136D4A76A63A3E6347C85C51>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đình An Hòa tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai thuộc làng Bến Gỗ (nay là xã An Hòa, huyện Long Thành). Đây là ngôi đình cổ kính gắn liền với quá trình khai phá, xây dựng và phát triển làng Bến Gỗ xưa - mảnh đất có vị trí địa lý thuận lợi, kinh tế phát triển, văn hóa đa dạng. Đình đã được Bộ VHTT xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia (Quyết định số 100/VH-QĐ, ngày 21/01/1989). </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div><span style="font-size:10pt"><font color="#808000"><font size=3><em><br></em></font></font></span>Đình An Hòa tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai thuộc làng Bến Gỗ (nay là xã An Hòa, huyện Long Thành). Đây là ngôi đình cổ kính gắn liền với quá trình khai phá, xây dựng và phát triển làng Bến Gỗ xưa - mảnh đất có vị trí địa lý thuận lợi, kinh tế phát triển, văn hóa đa dạng. Đình đã được Bộ VHTT xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia (Quyết định số 100/VH-QĐ, ngày 21/01/1989).</div>
<div><span style="font-size:10pt">Đình An Hòa được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ XVIII, ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ. Trải qua thời gian, đình được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Đình xây theo kiểu chữ Công - một trong năm lối kiến trúc truyền thống của Việt Nam. Vật liệu xây dựng đình chủ yếu là gỗ quý, có tính năng chịu lực cao. Nghệ thuật trang trí, chạm khắc đã đạt tới trình độ tinh xảo. Mỗi tác phẩm như được nghệ nhân xưa thổi hồn vào làm cho kiến trúc đình trở nên mềm mại, sinh động và đẹp mắt.</span></div>
<div> </div>
<div><span style="font-size:10pt">Theo phong tục Việt Nam, đình An Hòa thờ Thần thành hoàng bổn cảnh - vị thần bảo vệ, phù trợ cho làng xã; thờ tiền hiền, hậu hiền - những vị có công khai phá, mở mang, phát triển làng xã. </span></div>
<div> </div>
<div><span style="font-size:10pt">Trước năm 1945, đình là trụ sở hành chính của xã, thôn, nơi hội họp của Hội đồng kỳ mục của làng. Sau ngày miền Nam giải phóng, Nhà nước giao quyền quản lý đình cho Ban Quý tế xã An Hòa trông coi và tổ chức các hoạt động hội họp, lễ hội - sinh hoạt văn hóa cộng đồng. </span></div>
<div> </div>
<div><span style="font-size:10pt">Hàng năm nhằm ngày rằm tháng tám (âm lịch), đình tổ chức lễ cúng Thần theo nghi thức truyền thống. </span></div>
<div> </div>
<div><span style="font-size:10pt">Năm 2007 này, Đình An Hòa sẽ được trùng tu, tôn tạo để đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn của nhân dân trong và ngoài tỉnh.</span></div>
<div><span style="font-size:10pt"><span style="font-size:10pt"><font color="#808000"><font size=3><em><strong>Nguồn Báo Ðồng Nai</strong></em></font></font></span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:00 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.559</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:02:49 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=83</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Ngôi chùa Hoa cổ kính trên đất Cù lao Phố</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=101</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9DE92B29E01F417F88C1B9E328BEA2E6>
<div class=ExternalClassCC9862F1795A41D2928A25D6200545BF>
<p style="text-align:center"> </p>
<div><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666"><strong>
<p style="text-align:center"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062410_0327_NgichaHoac1.png"></p>
<p style="margin-left:2pt">Cù lao Phố là nơi có nhiều cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng cư dân sinh sống ở Biên Hòa. Miếu Quan Đế hay Thất phủ cổ miếu là một trong nhưng cơ sở tín ngưỡng cổ kính của người Hoa, được người dân địa phương gọi là chùa Ông. Đây là một di tích lịch sử kiến trúc khá độc đáo, được xây dựng vào thế kỷ XVII.</p><span style="font-size:x-small">
<p style="margin-left:2pt"> </p></span><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"> Một số sử sách cho biết, di tích là &quot;... một miếu điện nguy nga ở phía Nam châu Đại Phố huyện Phước Chính, trông ra sông Phước Long, đền đài rộng rãi, tráng lệ với hai Hội quán Phước Châu và Quảng Đông...&quot;. Châu Đại Phố vốn là thương cảng Cù lao Phố xưa, Phước Long Giang chính là tên gọi của sông Đồng Nai trước đây và huyện Phước Chính xưa rộng lớn mà địa phận TP. Biên Hòa nay nằm trong phạm vi đơn vị hành chính này. Cộng đồng người Hoa do Trần Thượng Xuyên đến Biên Hòa có công tạo dựng nên cơ sở tín ngưỡng này. Cơ sở tín ngưỡng này do bảy phủ người Hoa; Phước Châu, Chương Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Quỳnh Châu và Ninh Ba đóng góp công của xây dựng vào năm 1864. Với niên đại này, có thể xem chùa Ông (miếu Quan Đế) là cơ sở tín ngưỡng đầu tiên của người Hoa trên cả vùng Nam bộ.</span> </span></span></strong></span></span></div>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">    Tổng thể kiến trúc của di tích có kiểu hình chữ khẩu, được bố trí theo &quot;nội công ngoại quốc&quot;. Trong chùa lưu giữ một tập hợp tượng thờ về hệ thống thần linh chính yếu của người Hoa sinh sống trên đất Biên Hòa. Đó là tín ngưỡng thờ Quan Công /Quan Thánh đế quân, thờ bà Thiên Hậu, mẹ Sanh mẹ Độ, Phúc thần, Tài thần... Nội thất chùa được trang trí với những mảng kiến trúc đa dạng như: bao lam, liễn đối, khám thờ được chạm trổ tinh tế, thể hiện những điển tích, hình ảnh của các thần linh, vật linh, cảnh trí, sinh hoạt... trong quan niệm của người Hoa. Bên cạnh đó là những mảng văn tự Hán, với trình độ chạm khắc tinh xảo, thủ pháp nghệ thuật tinh tế. Phía sau chánh điện là lầu thờ Quan Âm, được xây dựng vào năm 1927, sau này được tôn tạo mới và phối thờ nhiều tượng thờ có tính dung hợp dân gian.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">    Kiến trúc bên ngoài của di tích là một trong tính nghệ thuật khá độc đáo, thể hiện nét đặc trưng của cơ sở tín ngưỡng Hoa. Hai tượng ông Nhựt, bà Nguyệt đặt trên bờ nóc tiền điện là một trong những đặc trưng cơ bản tạo nên nghi dung của một ngôi chùa Hoa. Bên cạnh đó, trên mái chùa là một quần thể tượng gốm liên hoành, sắc sảo. Những mảng tượng gốm với các đề tài lễ hội tiêu biểu như hát tuồng, múa cung đình, đá cầu, chuyện tích dân gian... được thể hiện sinh động. Những mảng chất liệu bằng đá được thiết kế bằng các tượng thú, hoa văn mỹ thuật đa dạng vừa là cấu kiện của kiến trúc vừa là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc làm cho chùa độc đáo so với các di tích tín ngưỡng trên vùng Cù lao Phố.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">    Kể từ khi xây dựng đến nay, chùa Ông đã trải qua nhiều đợt trùng tu, tôn tạo. Vì vậy, những thành tố cấu kết kiến trúc di tích hiện tồn bao gồm những thành tố không đồng nhất về niên đại và cũng không thuần nhất về phong cách, kiểu thức nghệ thuật. Đó là lẽ tự nhiên của sự bảo tồn trước sự biến chuyển, đổi thay của tự nhiên, xã hội. Đó cũng chính là giá trị lịch sử đánh dấu sự tiến triển của di tích qua nghệ thuật tạo hình, điêu khắc của cư dân, của sự giao thoa văn hóa, của sự phát triển của cộng đồng cư dân một vùng đất, đã diễn ra trên phạm vi Biên Hòa xưa - Đồng Nai nay.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong>    Đinh Huyền Dũng</strong></span> </span></span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:30 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.395</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:31:55 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=101</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Di tích- danh thắng Đồng Nai: Di tích Bửu Hưng Tự</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=84</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass746706AF45104AE78CD086393DBDD50B>
<div class=ExternalClassCE33037499B7471B97E7648CEAAA4CA7>
<div class=ExternalClass270234AFB1A44754BC92468798C37538><span style="font-family:Arial"><strong><span style="color:#666666">
<p><span style="display:none" id=1277349163340S> </span><a href="http://www.baodongnai.com.vn/Modules/Photo_Download.aspx?PhotoID=17437"><span style="color:#000000"><img border=0 alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062410_0311_Ditchdanht1.jpg"></span></a> </p></span></strong></span></div></div>
<p> </p>
<div><b><font color="#666666" size=2>Bửu Hưng Tự còn có tên gọi là chùa Cô Hồn nằm trên đường Phan Đình Phùng trong nội ô TP. Biên Hòa (ảnh) được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cách mạng (Quyết định số 62/QĐ.UBT, ngày 16-2-1979). Chùa được xây dựng vào khoảng năm 1920, nơi đây ghi dấu nhiều sự kiện cách mạng quan trọng của Đảng bộ và nhân dân Biên Hòa, Đồng Nai trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div><font size=2>Năm 1861, Pháp đánh chiếm và xây dựng chính quyền thuộc địa tại Biên Hòa. Trước cảnh nước mất nhà tan, người dân Biên Hòa đã đứng dậy chống lại kẻ thù với nhiều hình thức khác nhau, trong đó phải kể đến tổ chức Hội kín yêu nước với tên gọi là Lâm Trung trại, được thành lập ở Biên Hòa vào đầu thế kỷ XX. Tháng 2-1916, Lâm Trung trại tổ chức tiến công vào các công sở của Pháp ở Biên Hòa nhưng do vũ khí thô sơ, lực lượng lại mỏng nên đã thất bại. Thực dân lùng sục và tìm mọi cách bắt giam các nghĩa sĩ chỉ huy, xử bắn và chôn xác 9 người chung một nấm mồ trước sự chứng kiến đau thương của người dân địa phương. Cảm động tấm lòng yêu nước của các nghĩa sĩ Lâm Trung trại, người dân địa phương đã xây dựng ngôi miếu nhỏ trên triền đồi nhằm tưởng nhớ và thờ cúng những linh hồn các sĩ tử. Đến năm 1920, nhân dân địa phương góp tiền của, công sức xây dựng ngôi miếu thành ngôi chùa có tên gọi Bửu Hưng tự.</font></div>
<div><font size=2> Tháng 6-1945, dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Minh Châu, Hội nghị cán bộ Đảng Biên Hòa đã được triệu tập tại chùa. Hội nghị đã quyết định những vấn đề quan trọng về chủ trương chuẩn bị cho nhân dân Biên Hòa nổi dậy giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám. </font></div>
<div><font size=2>Những năm gần đây, cùng với các phật tử, Ban trụ trì nhà chùa đã không ngừng phát huy công tác xã hội hóa di tích, trùng tu và sửa chữa một số hạng mục quan trọng như: nhà thờ tổ, nhà giảng; một số cột gỗ, lót mới nền nhà, thay ngói... Đặc biệt, Bửu Hưng tự đã trở thành ngôi nhà quen thuộc của những mảnh đời bất hạnh nhưng tràn đầy tình nhân ái trong vòng tay yêu thương và che chở của những tấm lòng từ bi, nguyện hướng đến cái chân - thiện - mỹ trong cuộc sống thường nhật của con người. </font></div>
<blockquote style="margin-right:0px" dir=ltr>
<div><font size=2><strong>Trọng Tá</strong></font></div></blockquote></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:15 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.670</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:15:32 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=84</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Lịch sử - kiến trúc nghệ thuật đình Phú Mỹ : Di tích - danh thắng Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=87</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7945814AB24747E3A60A98DE7441DA89>
<div><font color="#666666" size=2 face=Arial><strong>Đình Phú Mỹ tọa lạc trên đồi cây dầu cổ thụ, xưa thuộc thôn Phú Mỹ, tổng Thành Tuy, huyện Long Thành, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa; nay là xã Phú Hội (huyện Nhơn Trạch). Đình Phú Mỹ được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh theo Quyết định số 3525/QĐTC.UBND, ngày 10-10-2005. </strong></font></div>
<div><font size=2 face=Arial>﻿ 
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Đình được tạo dựng vào đầu thế kỷ thứ XIX. Ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ nằm ở gò cao ruộng ông Bồn, có quy mô và kiến trúc đơn giản, làm bằng vật liệu thô sơ sẵn có ở địa phương: gỗ, tre, lá... Trải qua những biến động lịch sử, ngôi miếu xuống cấp và được trùng tu, sửa nhiều lần. Năm 1820, ngôi miếu chuyển về hướng rừng già cất thành ngôi đình; Năm 1832, ngôi đình lại chuyển về đồi Cây Dầu. Năm 1998 đình Phú Mỹ được sửa chữa mái tiền, chánh điện và xây thêm một số bục bệ thờ. </font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Đình có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam ( ) gồm: tiền đình, chánh điện và Nhà khách nối tiếp nhau. Vật liệu làm đình bằng gỗ căm xe,  rất bền có tính năng chịu lực cao, là công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo còn bảo lưu được những nét tiêu biểu về kiểu thức của ngôi đình làng Nam bộ.  </font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Theo phong tục đình Phú Mỹ thờ thành hoàng bổn cảnh - vị thần bảo vệ, phù hộ cho làng xã; thờ tiền hiền, hậu hiền - những vị có công khai phá, xây dựng và phát triển làng xã.</font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Đình Phú Mỹ còn là nơi bí mật gặp gỡ, trao đổi công tác của cán bộ cách mạng ở hai xã Phú Hội, Phú Mỹ trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Đặc biệt khi nghe tin Bác Hồ mất, nhân dân Phú Hội vô cùng thương tiếc đã rước vong linh Bác vào đình thờ phụng dưới hình thức ba bức hoành phi chữ Hán đúc rút từ kinh thi. Nội dung ca ngợi công đức của  vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc:</font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Hồ nhiên nhi thiên</font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Chí vọng thâm ân</font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Minh hoài hậu đức.</font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Ba từ đầu của ba bức hoành phi ghép lại thành tên Hồ Chí Minh. Đó là trí tuệ sáng tạo độc đáo và khéo léo đến tuyệt vời của người dân nơi đây.</font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Sau ngày miền Nam giải phóng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Phú Hội đã rước ảnh Bác vào thờ trong đình và năm 2004 Bộ tư lệnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh hiến cúng bức tượng Bác Hồ bằng đồng được đặt thờ trong Chánh điện. </font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Hàng năm nhằm ngày 15, 16 tháng 11 (âm lịch), đình tổ chức cúng Thần và dâng hương tưởng nhớ công ơn Bác Hồ, có đông đảo nhân dân địa phương và các vùng lân cận về dự để gửi gấm những tâm tư, tình cảm, ước vọng của mình với Thần linh, với Bác Hồ kính yêu.</font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=justify><font style="font-size:9pt" face=Arial>Tháng 5-2006, di tích đình Phú Mỹ được tiến hành bảo quản, gia cố bằng nguồn kinh phí của tỉnh Đồng Nai, huyện Nhơn Trạch và xã Phú Hội. </font></p>
<p style="margin-top:6px;margin-bottom:0px" align=right><font style="font-style:italic;font-size:9pt;font-weight:700" face=Arial>Theo Báo Đồng Nai.</font></p></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.729</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:20:42 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=87</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nhà cổ Trần Ngọc Du được công nhân là di tích kiến trúc nghệ thuật</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=97</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass0D0E1B15618D451A9E63E79C1EE5DE94>
<div><font color="#666666" size=2 face=Arial><strong>Sáng ngày 21-1, Ban Quản lý di tích - danh thắng tỉnh Đồng Nai kết hợp với Phòng Văn hóa thông tin TP.Biên Hoà tổ chức lễ công bố quyết định và trao bằng công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật của UBND tỉnh Đồng Nai cho Nhà cổ Trần Ngọc Du. </strong></font></div>
<div><font size=2 face=Arial>﻿ 
<p align=justify><font face="Times New Roman">      Đây là ngôi nhà cổ đầu tiên ở Đồng Nai được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.  Căn nhà cổ này  tọa lạc tại phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa, do ông Trần Ngọc Du xây dựng vào năm 1900. Đây là một trong 401 ngôi nhà cổ tiêu biểu ở Biên Hòa đánh dấu tiến trình 300 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa, Đồng Nai. </font></p>
<p style="text-indent:30px" align=justify><font size=3><strong style="font-weight:400">Nhà cổ Trần Ngọc Du được đánh giá là một công trình nghệ thuật có kết cấu và bố cục chặt chẽ, hài hòa giữa các hạng mục. Mỗi hạng mục là một công trình kiến trúc độc lập rất có gía trị về mặt thẩm mỹ, đặc trưng cho kiến trúc thế kỷ 19 theo motip dân gian. Những yếu tố về địa hình, địa thế, hướng nhà đều được xây dựng theo thuật phong thủy, đảm bảo cho sự trường tồn và no ấm.</strong></font></p>
<p style="text-indent:30px" align=justify><font size=3><strong style="font-weight:400"> Trước đó , năm 2001, được sự chấp thuận của Bộ VHTT và UBND tỉnh Đồng Nai, Chính phủ Nhật Bản đã đầu tư cho việc trùng tu ngôi nhà.</strong></font></p>
<p align=justify><font style="font-style:italic" size=3>    <b>Nguồn: Đài PTTH Đồng Nai</b></font></p></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:25 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.861</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:27:15 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=97</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Địa đạo Nhơn Trạch</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=96</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9C42DF44AB964556BB4475ED103C2CB8>
<div><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Vùng Phước An vốn là rừng nguyên sinh lòng chảo, một thời được mệnh danh là &quot;Thủ đô của Long Thành kháng chiến chống Pháp&quot;. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, rừng lòng chảo là căn cứ hoạt động của Huyện ủy Nhơn Trạch với hệ thống địa đạo, giao thông hào, ô ụ chiến đấu cùng lán trại trên mặt đất. Lực lượng đào địa đạo khoảng 20 người thay phiên nhau, đào bằng dụng cụ thô sơ như: cuốc, xẻng đã khởi công vào đúng ngày 19-5-1963 nhân kỷ niệm 73 năm ngày sinh Bác Hồ.</font></b> </span></span></div>
<div><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Đến cuối năm 1964 đã đào được 1,5km đường địa đạo khép kín, liên hoàn trong lòng đất, nối từ căn cứ Huyện ủy về các xã Phú Hội, Phước An, Huyện đội... Đường địa đạo có kết cấu hình vòm nằm sâu dưới mặt đất từ 5 đến 7m, độ cao từ 1,8m đến 2m, rộng từ 1m đến 1,2m; có nhiều lỗ thông hơi, ngách rẽ sang hai bên, hầm bí mật, giếng nước, bếp Hoàng Cầm... đường địa đạo có thể chịu đựng sức công phá của bom 250kg, chứa được từ 300 đến 500 người.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Xuất phát từ căn cứ này, Huyện ủy Nhơn Trạch đã lãnh đạo và chỉ đạo các lực lượng cách mạng trong huyện kết hợp đấu tranh vũ trang, chính trị, binh vận đánh bại chính sách ấp chiến lược, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ - ngụy. </span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Sau ngày giải phóng miền Nam, hệ thống địa đạo dài 1,5km này không còn nguyên vẹn, chỉ còn giữ lại gần 200m. Mặc dù vậy, ý nghĩa lịch sử của căn cứ cách mạng này là rất lớn nên ngày 19-1-2001, Bộ VHTT đã xếp hạng địa đạo Nhơn Trạch là di tích lịch sử cấp Quốc gia (Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT).</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:14.15pt"> </div><span style="font-family:Arial">
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:14.15pt"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Để bảo tồn và phát huy tác dụng di tích địa đạo Nhơn Trạch, hiện nay trên khu đất rộng 2,5 hecta đối diện với đền thờ liệt sĩ tọa lạc tại ấp 5, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, đang tiến hành tu bổ, phục hồi lại đoạn địa đạo dài 200m và nơi làm việc của Huyện ủy theo hồi cố của các nhân chứng lịch sử; xây một nhà truyền thống trưng bày các tài liệu, hình ảnh, hiện vật của căn cứ Huyện ủy xưa với tổng kinh phí hơn 9 tỷ đồng để khách có điều kiện thăm lại vết tích chiến trường xưa, ôn lại trang sử hào hùng một thời oanh liệt. Cũng tại khu đất này, huyện Nhơn Trạch sẽ xây một số công trình văn hóa gắn liền với di tích, du lịch sinh thái vườn trái cây Phú Hội và khu công nghiệp của thành phố trẻ Nhơn Trạch trong tương lai</span></span></div><span style="font-size:x-small">Theo Báo Đồng Nai</span></span></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:25 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.954</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:26:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=96</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đền thờ và mộ Nguyễn Hữu Cảnh</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=95</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassF44DE44063234B64901475F8F9BA4EA1>
<div><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, đã được Bộ VH - TT - TT&amp;DL xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia (Quyết định số 457-QĐ ngày 25-3-1991). </font></b></span></span></div>
<div><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:14.15pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font style="font-size:12.5pt">Đền</font><font style="font-size:12.5pt"> thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay.</font></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:14.15pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font style="font-size:12.5pt">   Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là  người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ XVIII và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là <i>Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ</i> với tước: <i>Lễ Thành Hầu</i> và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu.</font></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:21.85pt;margin-left:14.15pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font style="font-size:12.5pt">Nhằm bảo tồn di sản văn hóa dân tộc và phát huy giá trị văn hóa trong thời kỳ hội nhập, thời gian qua, ngành VHTT Đồng Nai, UBND TP. Biên Hòa, chính quyền địa phương và Ban quý tế đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh đã tiến hành trùng tu, tôn tạo di tích; mở rộng, chỉnh trang lại khuôn viên, kè đá bờ sông với số kinh phí lên đến hàng tỷ đồng. Năm 2006, Ban Quản lý di tích - danh thắng Đồng Nai đã tiến hành xử lý mối mọt, nấm mốc tại di tích. Trong kế hoạch năm 2007, Ban Quản lý di tích - danh thắng sẽ hướng dẫn, hỗ trợ về mặt chuyên môn cho UBND xã Hiệp Hòa thành lập Tổ Quản lý các di tích đã xếp hạng và kiểm kê phổ thông trên địa bàn xã để làm tốt hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ, trùng tu tôn tạo, tổ chức lễ hội và đón khách tham quan<br><br>     Theo Báo Đồng Nai</font></span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:25 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.709</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:25:50 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=95</guid>
    </item>
    <item>
      <title>105 năm trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai: Đào tạo nhiều thế hệ có trình độ tay nghề cao</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=26</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassC2855376F9BD42BEAC11995D8C0CFBF0>
<div><b><font color="#666666" size=2>Trải qua 105 năm hình thành và phát triển, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai ngày nay thuộc Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch được tuyển sinh cả nước, hàng năm cho ra trường nhiều thế hệ sinh viên, học sinh có tay nghề cao. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai là trường có bề dày lịch sử, gắn liền với 310 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Năm 1903, khi mới thành lập, Trường dạy nghề Biên Hòa (tên gọi lúc ban đầu) đã có 6 ban nghề, gồm: đan lát, gốm, đúc đồng, tiện, chạm khắc, vẽ. Đến năm 1931, đây vẫn là một trường mạnh trong số 5 trường dạy nghề của xứ Nam kỳ, nhưng số ban đào tạo và sĩ số học trò giảm (ban đúc: 14 học trò, ban gốm: 9 và ban mộc: 4). Từ 1964, trường được đổi tên thành Trường kỹ thuật Biên Hòa, cũng chỉ có 3 ban nghề.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Từ sau ngày miền </span><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Nam</span><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> hoàn toàn giải phóng, trường được đổi tên thành Trường phổ thông công nghiệp Đồng Nai, thuộc Ty Giáo dục Đồng Nai. Là một trường đào tạo học sinh có năng khiếu mỹ thuật nên từ tháng 1-1978, trường được đổi tên thành Trường trung học mỹ thuật trang trí Đồng Nai và từ năm 1998 nâng cấp thành trường cao đẳng.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Kể từ khi được nâng cấp hệ cao đẳng, quy mô đào tạo của trường đã ngày càng mở rộng. Hàng năm tuyển sinh, có khoảng 2.000 thí sinh từ khắp mọi miền đất nước về dự tuyển, nhưng chỉ tiêu tuyển sinh có hạn, do nhà trường chú trọng tuyển sinh đầu vào phải có năng khiếu hội họa. </span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai có 8 khoa đào tạo, gồm 51 lớp với 1.210 sinh viên. Các khoa được duy trì đào tạo gồm: gốm mỹ nghệ, trang trí nội thất, điêu khắc, đồ họa. Những khoa mới có từ khi lên hệ cao đẳng gồm: đồ họa đa truyền thông, thiết kế thời trang, nhiếp ảnh quảng cáo, vừa học vừa làm.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Trước yêu cầu rất lớn về lực lượng lao động là họa sĩ thiết kế mẫu mã, sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa trong nước và xuất khẩu, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai luôn đổi mới phương pháp, chỉnh lý chương trình giảng dạy cho phù hợp với thực tế trong nước, hòa nhập với trình độ các nước trong khu vực và quốc tế. Ban giám hiệu thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề, trao đổi thực tiễn với các công ty, doanh nghiệp, nhằm thống nhất chi tiết cho các môn chuyên ngành lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, tạo mối quan hệ để sinh viên thực tập tại các đơn vị, doanh nghiệp. Do đó, khi ra trường, hầu hết sinh viên đều có việc làm và đáp ứng nhiệm vụ được giao.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Trong 5 năm gần đây, đa phần các giảng viên đứng lớp đã sử dụng phương tiện nghe nhìn, nâng cao chất lượng giảng dạy và khả năng tiếp thu của sinh viên. Là trường chuyên ngành mỹ thuật trang trí, nhà trường luôn quan tâm nâng cao chất lượng về hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Đứng chân trên địa bàn Đồng Nai, trường đã thực hiện nhiều công trình, sản phẩm văn hóa có giá trị cho tỉnh, như: tượng đài chiến thắng sân bay Biên Hòa; cổng chào Văn miếu Trấn Biên bằng chất liệu gốm; công trình phục dựng Văn miếu Trấn Biên với các đầu hồi, rồng, phụng chất liệu gốm; 5 bức phù điêu gốm đất nung tại trụ sở UBND tỉnh... Hàng năm, nhiều sinh viên của trường tham gia giải thiết kế thời trang toàn quốc, được vào vòng chung kết và đoạt giải. Nhiều thế hệ sinh viên ra trường đã có đóng góp thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Kỷ niệm 105 năm hình thành và phát triển Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai (1903 - 2008) hòa chung không khí kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, tập thể nhà trường đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> <b>1903 - 1913: Trường dạy nghề Biên Hòa (còn gọi là Trường bá nghệ Biên Hòa).</b></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1913 - 1944: Trường mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1944 - 1964: Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1964 - 1976: Trường kỹ thuật Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1977: Trường phổ thông công nghiệp Đồng Nai (thuộc Ty Giáo dục Đồng Nai).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1977 - 1998: Trường trung học mỹ thuật trang trí Đồng Nai (Bộ Văn hóa - thông tin).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1998 đến nay: Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai (Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Đỗ Hiếu (Theo báo Đồng Nai)</span></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:35 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.149</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:39:18 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=26</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>