“Ta về đây hôm nay trên Quảng trường Ba Đình”…
Hẳn nhiều bạn biết lời mở đầu bài hát này - bài Dâng Người tiếng hát mùa xuân của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Và hẳn ai trong chúng ta cũng mong có dịp được đến thăm Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác Hồ kính yêu đã đọc bản Tuyên ngôn Độc bất hủ, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trở lại những ngày mùa thu năm ấy...
Ngày 19-8-1945, khởi nghĩa cướp chính quyền thành công ở Hà Nội. Được tin, ngày 21 Tổng Bí thư Trường Chinh cùng một số nhà lãnh đạo Đảng đã lên đường về Hà Nội. Ngày 25, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về tới làng Gạ (thôn Phú Gia, Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội). Hôm sau, Người nghe các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh báo cáo tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội, và đến chiều thì về ở tại số 48 Hàng Ngang, Hà Nội. Đây là nhà của ông Trịnh Văn Bô, một nhà tư sản yêu nước dành để Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc trong những ngày đầu từ chiến khu về.
Tại đây, Người đã chủ trì phiên họp đầu tiên của Thường vụ Trung ương Đảng, quyết định mở rộng thành phần của Chính phủ lâm thời nhằm đoàn kết rộng rãi các đảng phái chính trị và các vị nhân sĩ ra giúp nước. Cũng tại đây, trong các ngày từ 28 đến 31-8, Hồ Chủ tịch đã soạn thảo một văn kiện lịch sử: bản Tuyên ngôn Độc lập. Tình thế cấp bách đòi hỏi phải hết sức khẩn trương. Bấy giờ, chính quyền Tàu Tưởng đang chuẩn bị thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” để hất cẳng Pháp, đồng thời xóa sổ cách mạng Việt Nam. Cần phải làm sao tổ chức lễ Tuyên ngôn Độc lập trước khi chúng kéo quân sang. Thực tế, ngày 14-9, lực lượng Hoa quân nhập Việt gồm 20 vạn ngưòi do tướng Lư Hán chỉ huy, vào đóng đại bản doanh tại Hà Nội!

Ngày 28-8, Chính phủ lâm thời họp tại Bắc Bộ Phủ, công bố thành phần Chính phủ mở rộng. Cũng trong cuộc họp đó, lễ Tuyên ngôn Độc lập đã được quyết định tổ chức vào ngày 2-9-1945. Toàn bộ công việc chuẩn bị, từ địa điểm, lễ đài đến quy mô, chương trình buổi lễ... giao cho một Ban tổ chức, đứng đầu là ông Nguyễn Hữu Đang, một thành viên của Văn hóa cứu quốc, Thứ trưởng bộ Thanh niên.
Trong mấy ngày còn lại cho đến buổi lễ trọng, Ban tổ chức đã làm việc ráo riết để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Có thể nói đó là một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn với một khối lượng công việc khổng lồ. Chỉ riêng việc dựng lễ đài để Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn đã là cả một đại vấn đề, vì phải lo từ thiết kế, nguyên vật liệu, thi công cho đến trang trí, lắp đặt hệ thống âm thanh... Nhưng rồi, như một phép thần, công trình đã hiện lên sừng sừng giữa quảng trường Ba Đình, như trong những bức ảnh, thước phim ngày nay chúng ta còn được xem. Thực ra, chẳng có phép thần nào cả. Tất cả là dựa vào sự tham gia, đóng góp, giúp đỡ của các họa sĩ, kiến trúc sư, kĩ sư và đông đảo nhân dân Hà Nội, cũng như trách nhiệm và tâm huyết của những người tổ chức...
Đầu giờ chiều ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, hàng chục vạn nhân dân Hà Nội và vùng lân cận tề tựu chỉnh tề trong cuộc mít tinh chào mừng Chính phủ. Quốc kì, lá cờ sao vàng bấy giờ đã trở nên quen thuộc với người dân, được kéo lên trong tiếng nhạc Quốc ca hùng tráng. Chủ tịch Hồ Chí Minh bước lên lễ đài, thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, long trọng tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
… Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
… Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết tinh những quyền lợi cơ bản và những nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam. Nhưng ngoài những lời văn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc, những người có may mắn dự lễ Quốc khánh năm ấy còn được nghe một lời nói ân cần, thiết tha ngoài văn bản của Bác. Đó là câu Bác hỏi, xen giữa những lời tuyên đọc: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” Tiếng “Có” đáp lời Người của cả biển người hôm ấy trên Quảng trường như làn sóng dậy, đã thể hiện ý chí của cả dân tộc quyết tâm gìn giữ nền Độc lập đã giành được bằng biết bao xưong máu. Giờ đây, mỗi khi đi trên Quảng trường Ba Đình, hoặc đi ngang qua, hay chỉ cần nghe nói đến, ta lại như thấy hiện về những hình ảnh sống động của mùa thu năm ấy, khiến lòng ta rạo rực, bồi hồi. Và văng vẳng trong gió thu, hay trong chính ta, lời bài hát đầy tự hào nhịp theo chân bước: Ta về đây hôm nay trên Quảng trường Ba Đình...
Nguồn: Sử ta - Chuyện xưa kể lại / Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Như Mai, Nguyễn Quốc Tín. - Tái bản lần thứ 10. - H. : Kim Đồng.
T.4 : Nhà Nguyễn, thời thuộc Pháp và cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. - 2024. - Tr. 347 - 352.