Thiếu thời (1726 – 1753)
Lê Quý Đôn, nguyên tên là Lê Danh Phương, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, tức 2 tháng 8 năm 1726, niên hiệu Bảo Thái thứ bảy ở làng Diên Hà, trấn Sơn Nam hạ (sinh tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên), là con của Lê Trọng Thứ, đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 5 (1721), làm quan đến Hình Bộ Thượng thư, phong tước hầu.
Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thần đồng. Năm 1739, theo cha lên học ở kinh đô đến năm 18 tuổi, thi Hương, đậu giải nguyên. Sau đó, ở nhà dạy học và viết sách. Năm 1752, Lê Quý Đôn 27 tuổi, thi Hội, đậu đầu, vào thi Đình, cũng đậu đầu (Bảng nhãn).
Bước đầu sự nghiệp (1752 – 1759)
Sau khi đỗ, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm chức Thụ Thư ở Viện Hàn lâm. Năm 1754, được sung vào Ban Toản Tu Quốc Sử. Năm 1756, đi liêm phóng ở Trấn Sơn Nam phát giác được 6, 7 viên quan ăn hối lộ. Đến tháng 5 năm ấy, được biệt phái sang phủ chúa coi phiên binh. Đến tháng 8 được đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa... Lúc về triều dâng bài điều trần 19 khoản nói về chức Chưởng phiên binh. Chúa Trịnh khen là am hiểu điều lệ nhà nước, thưởng cho 50 lạng bạc. Năm 1757, được thăng chức Thị Giảng Viện Hàn Lâm.
Đi sứ Trung Quốc (1759 - 1762)
Năm 21 Cảnh Hưng (1760), Lê Ỷ Tông mất, triều đình sai một sứ bộ do Trần Huy Mật và Lê Quý Đôn dẫn đầu sang nhà Thanh báo tang và dâng lễ cống.
Trong dịp này, có gặp sứ bộ Triều Tiên, trong đó có Ly Hy Trung. Khi sứ bộ ta qua các phủ, châu trên nội địa Trung Quốc, họ đều gọi sứ bộ ta là “Di quan, Di mục”, nghĩa là “quan lại mọi rợ”. Khi sứ bộ đến Quế Lâm, Lê Quý Đôn được ủy nhiệm viết thư cho quan đầu tỉnh Quảng Tây phản kháng lối dùng danh từ “Di” ấy. Đề nghị này, do uy tín sứ bộ ta và uy tín Lê Quý Đôn trong học vấn, trước tác, được Trung Quốc chấp nhận bỏ danh từ “Di”, sau được gọi là “An Nam cống sứ”.
Sự nghiệp chính trị (1762 – 1784)
Năm 1762, Lê Quý Đôn về triều, được thăng thưởng Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ, ông lập ra “Bí thư các”, công việc tiến triển tốt. 1764, Lê Quý Đôn dâng sớ, xin thiết lập pháp chế và đã cùng mấy học sĩ thân cận và cùng chí hướng tổng hợp các thuyết đức trị của nho gia và thuyết pháp trị của pháp gia. Lê Quý Đôn muốn thực hiện hoài bão một nhà chính trị như Vương An Thạch mà trước mắt đề cao pháp trị để chấn chỉnh cái tệ thủ cựu và lộng quyền hại dân bấy giờ, tiếc thay, sau khi đi sứ về nước ông lại đệ trình nhiều kiến nghị nhưng đều bị gian thần vùi dập, ông bị bổ Tham chính Hải Dương, một việc mà ông phải khước từ. Thế là ông cáo quan về quê nhà.
Đấy là bước ngoặt trong đời ông, tỏ ra chí hướng nhân cách của ông. Năm 1769, Lê Quý Đôn được phục chức Thi Thư và tham gia biên soạn tập Quốc Sử, kiêm chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám. Ba năm sau, được thăng chức Công Bộ Hữu Thị Lang, ông dâng xin lập đồn điền với lý lẽ xác đáng, đến nay ý nghĩa và biện pháp của ông vẫn còn giá trị thực thi.
Từ năm 1772 đến 1774, ông được giao hết đi điều tra về nỗi khổ của dân, tệ lạm của các quan ở Lạng Sơn, lại đi khám đạc ruộng cát ở duyên hải xứ Sơn Nam, ông đều làm tận tụy, công tâm và có nhiều ý kiến trình bày xác đáng, tin cậy.
Mùa xuân 1776, ông được đi vào Miền Trong, làm chức Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ. Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Lang Tham Tụng, Lê Quý Đôn cố từ xin đổi sang võ ban, ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phong tước Nghĩa Phái Hầu.
Cuộc đời làm chính trị Lê Quý Đôn không tránh khỏi sóng gió. Ông có nhiều kiến nghị ích quốc lợi dân, nhưng trong triều đình Lê - Trịnh, những đề xuất của ông ít được chúa chấp nhận thực thi, lại thêm triều đình trăm bè bảy mối, lòng ông canh cánh, những ưu tư, thậm chí lời ngay của ông thường bị gian thần gièm pha, nên ông thăng trầm lên xuống, có khi phải cáo quan về quê nhà ít năm. Nhưng nét nổi bật ở Lê Quý Đôn là trí thông minh, kiến thức uyên bác, đặc biệt trước tác không mệt mỏi và để lại nhiều tác phẩm lớn, đa dạng, có ích cho đời và làm rạng rỡ đất nước. Về bản thân, ông luôn chú ý trước hết đến tu thân rồi mới tề gia và trị quốc được.
Sự nghiệp văn chương
Tác phẩm Lê Quý Đôn rất đồ sộ, được chia ra những loại: sử, thơ, văn, chú giải kinh điển, triết học, tổng loại tạp biên và tồn nghi.
I. Sử
1. Đại Việt Thông Sử: 30 quyển, có những chương tiết: 1. Đế kỷ (từ Lê Lợi khởi nghĩa đến năm Thuận Thiên thứ sáu (1433) – 2. Nghệ Văn Chí - Liệt truyện: hậu phi, hoàng tử, công thần gian nghịch – 3. Họ Mạc (1527 – 1677).
2. Phủ Biên Tập Lục: 6 quyển, gồm những chương: 1. Lịch sử khai thác hai tỉnh Thuận Hóa, Quảng Nam với các phủ, huyện, xã, v.v... 2. Núi sông, thành lũy, sản phẩm, thuế ruộng, đường sá,v.v... 3. Ruộng công và ruộng tư. 4. Thượng du biên phòng. 5. Nhân tài, thơ văn. 6. Phẩm vật, phong tục.
3. Bắc Sử Thông Lục: 4 quyển, gồm những bài tấu, khải, tư duy, truyền báo, những tạp ký về núi, sông, đường sá, phong tục sự tích, đàm thoại, ứng đối,v.v... trong khi đi sứ Trung Quốc (1760 đến 1762).
4. Kiến Văn Tiểu Lục: gồm những bút ký Lê Quý Đôn trong khi đọc sách về những tài liệu có quan hệ với lịch sử và văn hóa Việt Nam, từ cuối đời Trần đến đời Lê Quý Đôn.
II. THƠ VĂN
A. SÁNG TÁC
1. Quế Đường Thi Tập: 4 quyển
2. Quế Đường Văn Tập: 4 quyển
3. Quế Đường Di Tập: (tồn nghi)
B. BIÊN TẬP
- Toàn Việt Thi Lục: 6 quyển, có 73 nhà thơ và 897 bài thơ, đủ các loại chữ Hán, từ nhà Lý đến nhà Lê (Lê Tương Dực).
III. KINH ĐIỂN (Chú giải)
Thư Kinh Diễn Nghĩa
IV. TRIẾT HỌC
1. Quần Thư Khảo Biên: 2 quyển
2. Thánh Mô Điều Phạm Lục: 12 quyển, biên chép và bình chú những danh ngôn của các bậc thánh hiền
3. Âm Chất Văn Chú: 2 quyển gồm 541 chữ Hán chú giải và dẫn chứng bằng 283 sự kiện Trung Quốc.
V. TỔNG LOẠI
Vân Đài Loại Ngữ: 9 quyển, là thứ bách khoa, tập hợp và sắp xếp những tri thức về triết học, văn học, khoa học dưới 9 đề mục: 1. Lý trí (Vũ trụ luận) gồm 54 điều. 2. Hình tượng (Vũ trụ học) gồm 38 điều. 3. Khu vũ (địa lý) gồm 93 điều. 4. Vựng điền (điều lệ, chế độ) gồm 120 điều. 5. Văn nghệ gồm 48 điều. 6. Âm tự (ngữ ngôn văn tự) gồm 118 điều. 7. Thư tịch gồm 107 điều. 8. Sĩ quy (phép làm quan, trị dân) gồm 76 điều. 9. Phẩm vật (loại vật tự nhiên và vật kiến xã hội) gồm 320
Cũng thuộc loại Tổng loại này, còn có Kiến Văn Tiểu Lục, cuốn sách sưu tập nhiều tài liệu lịch sử văn hóa.
VI. TỒN NGHI
Có nhiều sách, có thể của Lê Quý Đôn, nhưng đã thất lạc, hoặc tiêu hủy, hoặc có thể của người khác mà người ta đem gán cho Lê Quý Đôn số lượng cũng nhiều, nhưng Dịch Kinh Phu Thuyết, Đăng Khoa Lục sưu giảng, Thiên Văn Thư, Hoàng Triều Trị Giám Cương Mục, Thái Ất Giản Di Lục, Hoàng Giáo Lục, Kim Cương Kinh Chú Giải, Tục Ưng Đáp Bang, Giao Tập, Quốc Văn Tùng Ký v.v..., cùng những bài văn bằng chữ Nôm, thể phú hoặc kinh nghĩa như Gái quá thì, Lấy chồng cho đáng tấm chồng.
(Theo GS. Cao Xuân Huy viết, in trong sách Vân Đoài Loại Ngữ - Nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội 1962 - TG tóm lược, có đối chiếu thêm một số tư liệu khác).
Nguồn: Kể chuyện Lê Quý Đôn / Đinh Mạnh Thoại. - Tp. HCM. : Nxb. Trẻ, 1999. - Tr. 66 - 72.